» Mở tất cả ra       » Thu tất cả lại
English and French
Tìm kiếm

Bài & Tin mới
Lời chia buồn.[30/08/21]
Thông tư số : 10/2021/TT-BXD – Ngày 25 tháng 8 năm 2021 của Bộ Xây dựng.[28/08/21]
Tổng hội Xây dựng Việt Nam phản hồi Bộ Xây dựng về dự thảo Nghị quyết phân loại đô thị.[16/08/21]
Đại công trường điện gió ở miền tây Quảng Trị.[15/08/21]
Trao đổi về tài lieu: ‘Sổ tay Hướng dẫn Áp dụng công nghệ tràn bằng khối bê tông tự lật’
Sông Hậu nhánh Trần Đề, Đặc điểm và Khuyến nghị.[30/07/21]
Kênh Ia Mơr bị sạt lở.[29/07/21]
Đảm bảo an toàn tuyệt đối hồ chứa nước.[26/07/21]
Sổ tay: ‘Hướng dẫn áp dụng Công nghệ tràn bằng khối bê tông tự lật’.[20/07/21]
Cuôc họp của Hội Đập lớn & Phát triển nguồn nước Việt Nam và Ủy ban Khoa học Công nghệ của Quốc hội.[19/07/21]
Kết nối vùng và câu chuyện ứng xử với rừng Cần Giờ.[15/07/21]
Thông tư số 06/2021/TT-BXD của Bộ xây dựng ngày 30/06/2021.[13/07/21]
Thông tư 07/2021/TT-BTNMT quy định kỹ thuật thu nhận và xử lý dữ liệu ảnh số địa lý.[12/07/21]
Về nguồn nước ở Đồng bằng sông Cửu Long.[10/07/21]
Biến đổi khí hậu và An ninh nguồn nước ở Việt Nam.[08/07/21]
Chúc mừng ThS. Nguyễn Hoài Nam.[05/07/21
Trao đổi tiếp về bài ‘Sai lầm xả lũ mùa mưa bão’.[03/07/21]
Càng khẳng định dự án Luồng sông Hậu không khả thi.[01/07/21]
Trao đổi thêm về bài ‘Sai lầm xả lũ mùa mưa bão’.[30/06/21]
 Số phiên truy cập

77342248

 
Hộp thư
Gửi bài viết này cho bạn bè

Về nguồn nước ở Đồng bằng sông Cửu Long.[10/07/21]
Xin chào anh Giang, Tôi thích thú đọc bài viết cuối cùng của anh trên web VNCOLD và tôi đồng ý với anh về chương liên quan đến ƉBSCL (tôi ít biết về các vấn đề liên quan đến Sông Hồng và Hà Nội), đặc biệt là quan sát của anh về vịnh Rạch Giá.

Về nguồn nước ở

Đồng bằng sông Cửu Long

 

* Chuyên gia M. Hồ Tá Khanh

Xin chào anh Giang,

Tôi thích thú đọc bài viết cuối cùng của anh trên web VNCOLD và tôi đồng ý với anh về chương liên quan đến ƉBSCL (tôi ít biết về các vấn đề liên quan đến Sông Hồng và Hà Nội), đặc biệt là quan sát của anh về vịnh Rạch Giá.

Tôi nghĩ giải pháp đề xuất tạo một hồ chứa lớn bằng cách đóng cửa một phần Vịnh Rạch Giá có thể thú vị. Đương nhiên nó đòi hỏi các nghiên cứu sơ bộ khách quan, nghiêm túc và đầy đủ liên quan đến những bất lợi từ quan điểm xã hội và môi trường, nhưng những nghiên cứu này không được ngăn cản trước những ý tưởng định kiến ​​của một số người và các tổ chức phi chính phủ về môi trường, chẳng hạn như: " có hại vì chúng ta đang thay đổi trạng thái tự nhiên hiện tại! " (những thành tựu của cơ sở hạ tầng thiết yếu cho con người luôn được tạo ra bằng cách sửa đổi môi trường) hoặc "nó quá đắt!" (nhưng liên quan đến cái gì?). Việc xây dựng cuối cùng này chỉ là cần thiết và chỉ có thể đạt được trong dài hạn. Các nghiên cứu khả thi tương ứng có thể và cần được tiến hành ngay bây giờ.

Tôi nhận thấy rằng anh đã chú ý đúng đến nguy cơ giảm dòng chảy của sông ở ĐBSCL trong thời kỳ khô hạn nếu Thái Lan thực hiện dự án thủy lợi mang tên 'Kong - Loei - Chi - Mun'. Tôi nghĩ, không giống như một số người, không thể loại trừ nguy cơ rút nước phục vụ tưới tiêu ở các nước phía thượng nguồn Việt Nam, cụ thể là Thái Lan. Theo tôi, rủi ro này còn lớn hơn rủi ro do các đập thủy điện của Trung Quốc trên thượng nguồn sông Mê Công gây ra vì lý do được nêu dưới đây.

Hồ Tonle Sap là một bộ điều tiết rất hữu ích của dòng chảy Mê Công cho ĐBSCL nhưng như đã được giải thích trong một ấn phẩm trước đây, vai trò rất quan trọng này đối với Việt Nam là không hoàn hảo. Sẽ tốt hơn nữa nếu chúng ta có thể xây dựng một con đập có kiểm soát tại nơi hợp lưu của nó với sông Mê Công, để có thể điều tiết các dòng chảy vào và ra khỏi hồ theo dòng chảy của sông Mê Công, có lẽ bằng cách bổ sung thêm máy bơm ; những trao đổi này hiện chỉ được thực hiện bởi sự khác biệt về mực nước giữa sông Mê Công và sông Tonle Sap. Do đó, việc xây dựng một con đập ở cửa ra của Tonle Sap không hẳn là một điều xấu, nhưng với điều kiện Việt Nam phải tham gia vào quá trình thiết kế và vận hành.

Về quan sát thực tiễn bao gồm trong thời kỳ khô hạn ngăn dòng chảy ở hạ lưu đập bằng cách dừng tổ hợp và đóng van để tích nước, nó không phù hợp với thực tế trong đại đa số các trường hợp.

Nếu chúng ta lấy ví dụ về trường hợp của các đập EDF:

- chúng tôi đảm bảo rằng vào đầu mùa khô, mực nước trong hồ chứa vẫn ở mức rất rõ ràng trên mức vận hành tối thiểu (đây là dung tích dự trữ trong mùa mưa),

- trong mùa khô, chúng tôi tuabin dòng chảy đến cộng với dòng chảy có thể bị mất ổn định. Trong trường hợp này, dòng chảy hạ lưu được tăng lên so với dòng chảy đến (hỗ trợ nước thấp),

- nếu trong mùa khô không còn trữ lượng nước thì chúng tôi chỉ tua-bin dòng chảy đến và chúng tôi tập trung vào giờ cao điểm (tình huống hiếm gặp),

- trong mọi trường hợp, cố gắng làm đầy bể chứa trong thời kỳ khô, chức năng này được thực hiện trong thời kỳ ẩm ướt,

- không phụ thuộc vào sản xuất điện, tốc độ dòng chảy dự trữ (được đặt ở Pháp là 10% tốc độ dòng chảy thấp trung bình) phải được giải phóng ở hạ lưu trong mọi trường hợp. Trong những trường hợp này, hồ chứa không làm giảm lưu lượng hạ lưu mà nói chung làm tăng lưu lượng.

Nhận xét của anh có lẽ đúng đối với các nhà máy thủy điện nhỏ ở Việt Nam có hồ chứa nhỏ (thường được quản lý kém), nhưng đối với các đập thủy điện lớn có hồ chứa lớn thì không.

Trân trọng,

M. Hồ Tá Khanh.

__________________________________________________________________

Hello Mr. Giang,

 

I read with interest your last article on the VNCOLD web and I agree with you on the chapter concerning the Mekong Delta (I am less aware of the problems concerning the Red River and Hanoi), with in particular your observations on the Rach Gia Bay.

 

I think the proposed solution of creating a large reservoir by closing off part of Rach Gia Bay may be interesting. It naturally requires objective, serious and complete preliminary studies concerning the disadvantages from the social and environmental points of view, but these studies must not be prevented a priori by the preconceived ideas of certain people and environmental NGOs, such as for example: "It’s harmful because we are changing the current natural state! " (the achievements of the infrastructures essential to man have always been made by modifying the environment) or "It’s too expensive! " (but in relation to what?). This eventual construction is only necessary and could only be achieved in the long term. We can and must now carry out the corresponding feasibility studies.

 

I notice that you have rightly drawn attention to the risk of a decrease in the flow of the river in the Mekong Delta in the dry period if Thailand carries out its irrigation project called 'Kong - Loei - Chi - Mun' . I think, unlike some people, that this risk of water withdrawals for irrigation in countries upstream of Vietnam, especially Thailand, cannot be ruled out. In my opinion, this risk is even greater than that produced by the Chinese hydroelectric dams on the Upper Mekong for the reason given below.

 

The Tonle Sap Lake is a very useful regulator of the Mekong flow for the Mekong Delta but, as already explained in a previous publication, this very important role for Vietnam is not perfect. It would be even better if we could build a gated dam at its confluence with the Mekong, to be able to regulate at will the flows entering and leaving the lake according to the flows of the Mekong, perhaps by adding pumping, these exchanges being now made only by difference in water levels between the Mekong and the Tonle Sap. The construction of a dam at the outlet of the Tonle Sap is therefore not necessarily a bad thing, but on condition that Vietnam participates in its design and operation.

 

Regarding the observation on the practice consisting in the dry period of preventing flow downstream of dams by stopping the turbining and closing the valves in order to fill the reservoir, it does not conform to reality in the vast majority cases.

If we take for example the case of EDF dams:

- we make sure that at the start of the dry season, the water level in the reservoir remains very clearly above the minimum operating level (this is the volume stored during the wet season),

- during the dry season, we turbine the flow that arrives plus the flow that can be destocked. In this case, the downstream flow is increased compared to the incoming flow (low water support),

- if during the dry season there is no more water stock available then we only turbine the flow that arrives and we concentrate on peak hours (rare situation),

- in any case, an attempt is made to fill the reservoir during the dry period, this function being performed during the wet period,

- regardless of electricity production, we must release the reserved flow (set in France at 10% of the average low flow) downstream in all circumstances. In these cases, the reservoir does not decrease the downstream flow but generally increases it.

Your observation is probably correct for small hydroelectric plants in Vietnam with small (often poorly managed) reservoirs, but not for large hydroelectric dams with large reservoirs.

 

With my best regards,

M. Ho Ta Khanh.

 

Đóng góp ý kiến về bài viết này 

Mới hơn bài này
Các bài đã đăng
Tiêu điểm
Đại hội lần thứ IV, sự kiện lớn của Hội Đập lớn & Phát triển nguồn nước Việt Nam.[27/04/19]
Hội Đập lớn & Phát triển nguồn nước Việt Nam phấn đấu vì sự nghiệp phát triển thủy lợi của đất nước.[18/04/19]
Danh sách Hội viên tập thể đã đóng niên liễm 2018.[11/01/19]
Chùm ảnh Đại hội lần thứ 2 Hội Đập lớn Việt Nam.[13/08/09]
Nhìn lại 5 năm hoạt động của VNCOLD trong nhiệm kỳ đầu tiên.[10/08/09]
Thông báo về Hội nghị Đập lớn Thế giới.[17/07/09]
Thư chào mừng của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải
VNCOLD đã thành công tại cuộc họp Chấp hành ICOLD Sofia (Bulgaria), 6/6/2008
Phó Thủ tướng khai mạc Hội thảo “ASIA 2008.
Tạo miễn phí và cách sử dụng hộp thư @vncold.vn
Website nào về Thủy lợi ở VN được nhiều người đọc nhất?
Giới thiệu tóm tắt về Hội Đập lớn & Phát triển nguồn nước Việt Nam.
Download miễn phí toàn văn các Tiêu chuẩn qui phạm.
Đập tràn ngưỡng răng cưa kiểu “phím piano".
Đập Cửa Đạt
Lời chào mừng
Qu?ng c�o