» Mở tất cả ra       » Thu tất cả lại
English and French
Tìm kiếm

Bài & Tin mới
TÍNH TOÁN CÁC ĐẶC TRƯNG THỦY VĂN THIẾT KẾ [27/01/2024]
CÔNG TRÌNH THỦY LỢI - ĐẬP BÊ TÔNG VÀ BÊ TÔNG CỐT THÉP - YÊU CẦU THI CÔNG VÀ NGHIỆM THU [22/01/2024]
CÔNG TRÌNH THỦY LỢI - KẾT CẤU BÊ TÔNG VÀ BÊ TÔNG CỐT THÉP THỦY CÔNG - YÊU CẦU THI CÔNG VÀ NGHIỆM THU [20/01/2024]
Như thế nào là Trạm bơm lớn, trạm bơm nhỏ? [29/01/2024]
Quyết định số 20/QĐ-TTg về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể lưu vực sông Mã thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 [17-01-2024]
Quyết định số 21/QĐ-TTg về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể lưu vực sông Hương thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 [17-01-2024]
Quyết định số 22/QĐ-TTg về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể lưu vực sông Đồng Nai thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 [17-01-2024]
Nghị định số 02/2024/NĐ-CP về việc chuyển giao công trình điện là tài sản công sang Tập đoàn Điện lực Việt Nam [17-01-2024]
Kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Cục Quản lý xây dựng công trình [26-12-23]
Chùm ảnh các công trình thuỷ lợi tiêu biểu ở VN 20 năm 2003-2023 [30-11-2023]
Danh mục các quy hoạch thủy lợi đã được phê duyệt [26-10-2023]
BÀN VỀ ĐỊNH HƯỚNG LẠI NGÀNH XÂY DỰNG THÔNG QUA CHUYỂN ĐỔI SỐ [26-10-2023]
Luật Đấu thầu số 22/2023/QH15 thay thế Luật Đấu thầu trước đây và có hiệu lực từ 01/01/2024 [15-10-2023]
Dự thảo TCVN 8731-20xx Phương pháp xã định hệ số thấm của đất bằng phương pháp đổ nước và múc nước trong hố đào và hố khoan [15-10-2023]
Đập Đắk N’Ting (Đắk Nông) trước nguy cơ bị vỡ [05-09-23]
QUYẾT ĐỊNH: Về việc hủy bỏ Tiêu chuẩn quốc gia [05-09-23]
Nghị định 35/2023/NĐ-CP [07-08-23]
Ý KIẾN TRAO ĐỔI VỀ ĐỘNG ĐẤT Ở KONTUM NGÀY 14-07-2023 (2)[07-08-23]
HOẠT ĐỘNG HỘI 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2023 VÀ PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM 6 THÁNG CUỔI NĂM [04-08-23]
 Số phiên truy cập

81386384

 
Hộp thư
Gửi bài viết này cho bạn bè

GÓP Ý VỀ BÀI BÁO QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC Ở CÁC HỒ CHỨA NƯỚC [20-04-23]
Bằng cách trích dẫn các lỗ hổng trong các văn bản pháp quy liên quan công tác quản lý an toàn đập Hồ chứa nước, đề xuất phương pháp xác định lưu lượng xả kiểm tra và mức nước đón lũ của tất cả các HCN ở nước ta, tác giả đã nêu MỘT SỐ BẤT CẬP CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ, PHÂN CÔNG QUẢN LÝ AN TOÀN ĐẬP, HỒ CHỨA NƯỚC VÀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC Ở CÁC HỒ CHỨA NƯỚC...

Ts Nguyễn Trí Trinh chuyên gia PECC3

  

MỘT SỐ BẤT CẬP CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ, PHÂN CÔNG QUẢN LÝ AN TOÀN ĐẬP, HỒ CHỨA NƯỚC VÀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC Ở CÁC HỒ CHỨA NƯỚC

    

Tôi đã xem một số bài báo trong loạt 04 bài viết về bảo đảm an toàn về lũ cho Thừa Thiên Huế của tác giả KS. Nguyễn Anh Tuấn Hội Khoa học kỹ thuật Thủy lợi TP.HCM (sau đây gọi là tác giả). Tôi đã chú trọng xem bài báo thứ 3 cuả tác giả vì liên quan nhiều đến chế độ chính sách pháp luật cũng như vấn đề chuyên môn trong lĩnh vực quản lý an toàn đập (ATĐ), hồ chứa nước (HCN). Là người may mắn, có cơ hội làm chủ nhiệm đồ án, chủ trì thẩm tra, chủ trì phản biện một số dự án Thủy lợi, Thủy điện lớn của nước ta, xin phép được chia sẻ một số ý  kiến về nội dung bài báo thứ 3. Các ý kiến của tôi không phải đúng hoàn toàn nên rất mong mọi người có ý kiến bổ sung để giúp tránh ngộ nhận.

I.                    TÓM TẮT NỘI DUNG BÀI BÁO

Bằng cách trích dẫn các lỗ hổng trong các văn bản pháp quy liên quan công tác quản lý an toàn đập Hồ chứa nước, đề xuất phương pháp xác định lưu lượng xả kiểm tra và mức nước đón lũ của tất cả các HCN ở nước ta, tác giả đã nêu MỘT SỐ BẤT CẬP CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ, PHÂN CÔNG QUẢN LÝ AN TOÀN ĐẬP, HỒ CHỨA NƯỚC VÀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC Ở CÁC HỒ CHỨA NƯỚC. Nội dung trình bày của tác giả gồm phần Tóm tắt và 6 phần diễn giải, lập luận cho phần tóm tắt của mình, cụ thể (đọc giả có thể bỏ qua mục  1 nầy nếu đã đọc bài báo của tác giả Nguyễn Anh Tuấn /Web/ Content.aspx?distid=5248 ):

           

TÓM TẮT:

 

Ở Phần tóm tắt, tác giả đưa ra 4 kết luận, cụ thể:

-     Pháp luật hiện hành chưa có quy định đầy đủ về quản lý nguồn nước ở HCN;

-     Quy định hồ chứa thủy lợi phải có nhiệm vụ kết hợp cắt giảm lũ nhưng không quy định tương tự cho hồ chứa thủy điện. Tuy thu hút được đầu tư nhưng dẫn tới việc lập, trình thẩm định, phê duyệt thiết kế đập, hồ chứa thủy điện có dung tích phòng lũ nhỏ hơn dung tích phòng lũ của hồ chứa thủy lợi và tổng dung tích phòng lũ của các hồ không đủ để đảm bảo an toàn về lũ cho vùng hạ du đập,.…

-     Pháp luật về thiết kế đập, HCN hiện hành chưa có quy định cụ thể phải bảo đảm an toàn về lũ cho vùng hạ du đập đến mức độ nào (bảo vệ mùa màng hay bảo vệ đô thị và các khu vực dân cư khác?). Quy định về vận hành điều tiết lũ dường như chỉ xét cho an toàn công trình hồ đập mà chưa xét đến kinh tế dân sinh ở hạ du.

-     Thực tế đó đòi hỏi áp dụng phương pháp mới thiết kế dung tích phòng lũ của hồ chứa theo lưu lượng xả lũ lớn nhất cho phép ứng với mức bảo đảm an toàn về lũ được xác định cho vùng hạ du đập.

1.1             Các văn bản quy phạm pháp luật và những điều khoản quan trọng liên quan quản lý an toàn đập, hồ chứa nước:  tác giả trích dẫn các điều khoản liên quan quản lý an toàn đạp Hồ chứa nước từ các văn bản: Hiến pháp, Bộ luật Dân sự, Luật Thủy lợi, Luật Phòng chống thiên tai, Luật Tài nguyên nước, Luật Khí tượng thủy văn và Luật Xây dựng. Các văn bản dưới luật liên quan gồm: Nghị định số 114/2018/NĐ-CP ngày 04/9/2018 của Chính phủ về quản lý an toàn đập, hồ chứa nước (viết tắt là Nghị định 114/2008/NĐ-CP); Quyết định số 05/2020/QĐ-TTg ngày 31/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ quy định mực nước tương ứng với các cấp báo động lũ trên các sông thuộc phạm vi cả nước (viết tắt là Quyết định 05/2020/QĐ-TTg); Thông tư số 09/TT-BCT ngày 08/7/2019 của Bộ Công thương quy định về quản lý an toàn đập, hồ chứa thủy điện

1.2             Những hạn chế, bất cập trong Luật Thủy lợi và văn bản dưới luật liên quan.

Tác giả đưa ra các hạn chế, bất cập trong luật Thủy lợi và các văn bản dưới luật liên quan, trong đó nhấn mạnh:

-     Luật Thủy lợi phân biệt hồ chứa thủy lợi và hồ chứa thủy điện, sử dụng các cụm từ: “hồ chứa nước thủy lợi”; “hồ chứa thủy điện phục vụ thủy lợi”; “hồ chứa nước thủy điện”; “liên hồ chứa phục vụ thủy lợi” là không phù hợp;

-     Điều 18 Luật Thủy lợi nói về đầu tư xây dựng đập, hồ chứa nước, nhưng chỉ yêu cầu thực hiện theo Điều 17, không có yêu cầu phải bảo đảm an toàn cho đập, hồ chứa nước, trong đó có an toàn cho người và tài sản vùng hạ du đập là còn thiếu, chưa đầy đủ;

-     Thủ tướng Chính phủ đã thực hiện (nhưng chưa thực hiện hết) quyền này khi ban hành quy trình vận hành liên hồ chứa trên 11 lưu vực sông, trong đó quy định các hồ chứa thủy điện phải tham gia cắt, giảm lũ, kể cả khi đập chắn nước đó thuộc sở hữu tư nhân, và bất kể hồ chứa có dung tích phòng lũ là bao nhiêu.

-     Khoản 4, khoản 5 Điều 2 của Nghị định chỉ quy định mục đích chính của đập, hồ chứa thủy lợi là kết hợp cắt, giảm lũ mà không quy định tương tự đối với đập, hồ chứa thủy điện là thiếu thống nhất, dẫn tới đầu tư xây dựng đập, hồ chứa thủy điện có dung tích phòng lũ nhỏ hơn so với ở hồ chứa thủy lợi…. Việc cho phép có dung tích phòng lũ nhỏ hơn lại dẫn tới có sự nhân nhượng nhất định trong lập, trình thẩm định, phê duyệt quy trình vận hành hồ chứa thủy điện và vì thế các hồ chứa thủy điện không đảm bảo được an toàn cho người và tài sản vùng hạ du đập bằng các hồ chứa thủy lợi.

-     Sự thiếu thống nhất giữa Điều 17, Điều 18 Luật Thủy lợi và khoản 5 Điều 2, Điều 4, Điều 5 của Nghị định 114/2018/NĐ-CP so với khoản 7 Điều 2  Luật Thủy lợi dẫn tới việc nhiệm vụ đảm bảo an toàn cho người và tài sản vùng hạ du đập chưa được quy định một cách đầy đủ

-     Luật Thủy lợi, Nghị định 114/2018/NĐ-CP, Quyết định 05/2020/QĐ-TTg đều chưa quy định lưu lượng xả lũ xuống vùng hạ du đập theo quy trình phải bảo đảm an toàn về lũ đến mức độ nào (bảo vệ mùa màng hay bảo vệ đô thị và các khu vực dân cư khác) để có phương pháp tính toán thiết kế dung tích phòng lũ phù hợp cho đập, hồ chứa nước, là có hạn chế, bất cập

1.3             Những hạn chế, bất cập của pháp luật trong quản lý tài nguyên nước và phân công quản lý an toàn đập, hồ chứa nước.

Tác giả cho rằng còn những hạn chế, bất cập của pháp luật trong quản lý tài nguyên nước và phân công quản lý an toàn đập, hồ chứa nước, trong đó nhấn mạnh:

-     Chỉ khi trình, thẩm định quy trình vận hành liên hồ các cơ quan có trách nhiệm mới thực hiện nhiệm vụ quản lý tài nguyên nước ở hồ chứa nước

-     Chưa xác định/tham mưu ban hành văn bản xác định cụ thể ai là chủ sở hữu nguồn nước trong hồ chứa nước và chưa quy định cách thức để chủ hồ thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu đối với nguồn nước từ hồ chứa nước là chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm được giao, có phần buông lỏng trong quản lý

-     Điều 60 Luật Tài nguyên nước quy định về phòng, chống hạn hán, lũ, lụt, ngập úng nhân tạo chỉ quy định trong giai đoạn vận hành hồ chứa nước, các tổ chức, cá nhân quản lý, vận hành hồ chứa có trách nhiệm bảo đảm an toàn công trình và vùng hạ du của hồ chứa nhưng không quy định tương tự đối với giai đoạn quy hoạch và giai đoạn đầu tư xây dựng là có thiếu sót  

-     Chính phủ quy định hồ chứa nước là công trình thủy lợi, giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT) quản lý quy hoạch thủy lợi và đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi, quản lý về phòng chống thiên tai, giao Bộ Tài nguyên và môi trường quản lý tài nguyên nước trên lưu vực sông nhưng lại không giao cho Bộ NN&PTNT thẩm định, trình duyệt quy trình vận hành liên hồ mà lại giao cho Bộ Tài nguyên và môi trường (Bộ TN&MT) là giao không đúng người, không đúng việc;

-     Ngành Điện lực không được giao quản lý lưu vực sông thì việc quy hoạch xây dựng các công trình năng lượng thủy điện phải dựa trên cơ sở quy hoạch xây dựng các hồ chứa nước của ngành Thủy lợi mới đúng;

-     Việc giao cho “Bộ Công Thương chịu trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về an toàn đập, hồ chứa thủy điện là mâu thuẫn với quy định về phân loại công trình theo công năng sử dụng tại Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/01/2021 của Chính phủ

1.4             Tại sao phải bổ sung phương pháp tính toán thiết kế dung tích phòng lũ cho đập, hồ chứa nước theo lưu lượng xả lũ lớn nhất cho phép ứng với mục tiêu bảo đảm an toàn về lũ đã định cho vùng hạ du đập?

Tác giả đưa ra các lập luận cần thiết bổ sung phương pháp thiết kế dung tích phòng lũ cho đập, trong đó nhấn mạnh:

-     Việc tính toán các chỉ tiêu như lưu lượng xả lũ thiết kế, lưu lượng xả lũ kiểm tra … theo phương pháp thiết kế hiện hành không bị ràng buộc bởi yêu cầu bảo đảm an toàn về lũ cho vùng hạ du đập, dẫn tới tình trạng mực nước tại trạm thủy văn trên sông có thể lên trên mực nước báo động lũ cấp 2, vượt báo động lũ cấp 3, chạm hoặc vượt mức lũ lịch sử … được cho là điều bình thường, không ai có lỗi vì tất cả đều đã thực hiện theo đúng quy trình, quy định (chỉ ông trời là có lỗi!).

-     Theo tác giả việc chấp thuận này (hồ Dầu Tiếng được phép xả lũ với lưu lượng xả lũ thiết kế của hồ là 2.800 m3/s khi mực nước hồ Dầu Tiếng đạt đến 25,1 m mà lưu lượng đến hồ còn tiếp tục tăng) chỉ là xử lý tình thế, vì hồ Dầu Tiếng vốn không được thiết kế theo lưu lượng xả lũ lớn nhất cho phép ứng với mục tiêu bảo đảm an toàn về lũ đã định cho vùng hạ du đập;

-     Đấy là chỉ nói riêng về đập, hồ chứa nước. Mở rộng ra thì từ xưa đến nay, khi ông cha chúng ta và ngày nay chúng ta đắp đê là đã tính toán thiết kế theo mức đảm bảo an toàn về lũ cho vùng được bảo vệ phía trong đê.  

1.5             Phương pháp tính toán thiết kế dung tích phòng lũ cho hồ chứa nước theo lưu lượng xả lũ lớn nhất cho phép ứng với mục tiêu bảo đảm an toàn về lũ đã định cho vùng hạ du đập.

Tác giả đề xuất phương pháp tính toán xác đinh Qxa max KT cho hồ chứa đáp ứng yêu cầu phòng lũ hạ du theo các cấp báo động 1, 2 3. Trong đó triết lý của tính toán là Giả thiết toàn bộ tổng lượng nước của trận lũ kiểm tra tại vị trí đập được giữ lại hoàn toàn trong hồ chứa nước (hồ không xả lũ) để tìm mực nước tại trạm thủy văn nghiên cứu, so sánh mực nước tại trạm thủy văn này với các mức báo động để từ đó xác đinh lưu lượng xả max KT và mức nước đón lũ trong hồ, theo đó có 3 trường hợp có thể xảy ra:

+ Trường hợp 1: Hcònlại nhỏ hơn đáng kể so với mức báo động lũ của cấp đã được xác định tại trạm thủy văn: Đọc lưu lượng Qbáođộng1/2/3 ứng với độ cao mực nước báo động lũ của cấp đã được xác định Hbáođộng1/2/3 trên biểu đồ quan hệ lưu lượng - độ cao mực nước tại vị trí trạm thủy văn rồi tính QxảlũmaxKT theo công thức (3). 

+ Trường hợp 2: Hcònlại lớn hơn hoặc bằng mức báo động lũ của cấp đã được xác định tại trạm thủy văn, hoặc nhỏ hơn nhưng không đáng kể, cần nghiên cứu bổ sung diện tích lưu vực cho hồ chứa để có Hcònlại nhỏ hơn đáng kể so với mức báo động lũ của cấp đã được xác định tại trạm thủy văn rồi thực hiện lại các bước tính toán trên.

+ Nếu không thể bổ sung diện tích lưu vực cho hồ chứa , cần kiến nghị cấp có thẩm quyền xem xét điều chỉnh mức báo động lũ trên sông

1.6             Lời kết.

  II.               Ý KIẾN NHẬN XÉT

Người viết bài báo nầy thấy rằng tác giả Nguyễn Anh Tuấn là một KS rất có tâm huyết với ngành, đã bỏ nhiều công sức để nghiên cứu các pháp luật xây dựng liên quan công tác quản lý an toàn đập (ATĐ), hồ chứa nước (HCN) của nước ta. Tuy vậy để có một cái nhìn khách quan, cởi mở và tránh ngộ nhận, tôi xin được chia sẻ ý kiến cá nhân về bài báo số 3 của tác giả Nguyễn Anh Tuấn. Để tiện theo dõi, tôi xin trình bày quan điểm của mình theo như 4 kết luận ở mục tóm tắt của bài báo, cụ thể như sau:

2.1             Pháp luật hiện hành chưa có quy định đầy đủ về quản lý nguồn nước ở HCN

Phải khẳng định không có pháp luật hiện hành nào mà quy định đầy đủ tất cả các vấn đề xã hội, trong đó có pháp luật về xây dựng. Quá trình áp dụng, thực tiển phát sinh vấn đề mới thì cần thay đổi điều chỉnh cho phù hợp với thực tiển, xu thế phát triển bền vững. Tuy nhiên các nội dung mà tác giả đề cập chưa thực sự hoàn toàn chuẩn xác, cụ thể:

-     Sau khi trích dẫn điều 2 luật Thủy lợi, tác giả viết:  “Thủy lợi là giải pháp cấp nước phục vụ cho nhiều ngành kinh tế, trong đó có cấp nước phục vụ phát điện”. Câu này của tác giả hiểu chưa đúng ý nghĩa được viết trong luật Thủy lợi:

1. Thủy lợi là tổng hợp các giải pháp nhằm tích trữ, điều hòa, chuyển, phân phối, cấp, tưới, tiêu và thoát nước phục vụ sản suất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, sản xuất muối; kết hợp cấp, tiêu, thoát nước cho sinh hoạt và các ngành kinh tế khác; góp phần phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường, thích ứng với biển đổi khí hậu và bảo đảm an ninh nguồn nước.

Nội dung thuật ngữ được viết trên đây trong Luật Thủy lợi không đề cập đến thủy điện trực diện mà chỉ hàm ý trong ngành kinh tế khác. Các nhiệm vụ, chức năng chính trong thuật ngữ Thủy lợi đã được Luật Thủy lợi  đưa lên hàng đầu trong hành văn, trong khi chức năng cấp nước cho ngành kinh tế khác được bố trí sau cùng. Người đọc phải hiểu rằng chức năng Thuỷ lợi được định nghĩa trong luật Thủy lợi không bao gồm công trình thủy điện có nhiệm vụ phát điện là chính và chức năng phát điện trong công trình thủy lợi chỉ là kết hợp, tận dụng nguồn nước khi cấp nước cho hạ du để phát huy lợi ích tổng hợp. Để được rõ hơn, đọc giả có thể xem Nghị định 114/2018/NĐ-CP VỀ QUẢN LÝ AN TOÀN ĐẬP, HỒ CHỨA NƯỚC, ngày 04 tháng 09 năm 2018, điều 2 khoản 4 và 5 cũng đã phân biệt khó có thể nhầm lẫn về thuật ngữ công trình thủy lợi, công trình thủy điện:

4. Đập, hồ chứa thủy lợi là đập, hồ chứa nước được xây dựng với mục đích chính là cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt kết hợp cắt, giảm lũ.

5. Đập, hồ chứa thủy điện là đập, hồ chứa nước được xây dựng với mục đích chính là phát điện.

Thống kê một số công trình thủy lợi  kết hợp phát điện ngành Nông nghiệp PTNT quản lý đẻ minh họa thêm ở bảng 1 dưới đây

 

 

 

Bảng 1: Thống kê một số công trình thủy lợi có kết hợp phát điện

TT

Tên công trình thủy lợi

Nhiệm vụ

Ghi chú

1

Cửa Đạt

Giảm lũ với tần suất 0,6%, bảo đảm mực nước tại xã Xuân Khánh (huyện Thọ Xuân) không vượt quá 13,71m, tương đương lũ lịch sử năm 1962;

Tạo nguồn nước tưới ổn định cho hơn 86.800ha đất canh tác Cấp nước cho công nghiệp và sinh hoạt với lưu lượng 7,715 m3/s;

Kết hợp phát điện với công suất 97 MW; bổ sung nước mùa kiệt cho hạ du để đẩy mặn, cải tạo môi trường sinh thái với lưu lượng xả khoảng 30 m3/s.

Tần suất lũ thiết kế 0.1%, lũ kiểm tra 0.01%;

2

Nước Trong

Bổ sung nguồn nước cho đập Thạch Nham để cấp nước tưới cho 52.600 ha

Cấp nước cho các Khu Cong Nghiep trong tỉnh với lưu lượng 3,95 m3 /s

Cấp nước sinh hoạt dân cư Thị xã Quảng Ngãi và trong vùng khu tưới với công suất 1,75 m3 /s

Tận dụng tối đa nguồn thủy năng để kết hợpphát điện, công suất lắp máy N lm = 16 MW.

Góp phần giảm nhẹ ngập lụt hạ du và xâm nhập mặn ở vùng cửa sông Trà Khúc với tần suất P=10% là 0.24m. Trả lại lưu lượng môi trường sinh thái vùng hạ du sau Thạch Nham với lưu lượng Qmt= 5,92m3 /s.

 

3

Tả Trạch

Chống lũ tiểu mãn và lũ sớm, giảm lũ chính vụ cho hệ thống sông Hương, hạn chế độ sâu úng ngập cho thành phố Huế.

Cấp nước cho sinh hoạt và công nghiệp với lưu lượng 2,0 m3/s. Tạo nguồn nước tưới ổn định cho 34.782 ha đất canh tác thuộc vùng đồng bằng sông Hương.

Bổ sung nguồn nước ngọt cho hạ lưu sông Hương để đẩy mặn, cải thiện môi trường vùng đầm phá, phục vụ nuôi trồng thủy sản với lưu lượng 25,0 m3/s.

Kết hợp phát điện với công suất 19,5 MW.

 

4

Kẻ Gỗ

Tưới cho 21.136 ha đất canh tác của huyện Cẩm Xuyên, huyện Thạch Hà và thị xã Hà Tĩnh;

Chống lũ quét, chống xói mòn cho vùng hạ du; Cung cấp nước tưới phục vụ công nghiệp và sinh hoạt trong vùng với lưu lượng 1,6 m3/s;

Kết hợp phát điện công suất lắp máy 2,3 MW.

 

5

Phú Ninh

Tưới tiêu cho hơn 23.000 ha lúa và hoa màu 

 Kết hợp phát điện trên kenh chính với điện lượng từ 1,5-3 triệu kWh/năm

 

6

Định Bình

Cấp nước tưới cho 27.660 ha đất nông nghiệp (dự kiến khi phát huy hết năng lực, công trình có thể đảm bảo cấp đủ nước tưới cho khoảng 34.000 ha đất nông nghiệp).

Cấp nước cho dân sinh và các ngành kinh tế khác như nuôi trồng thủy sản, sản xuất công nghiệp của tỉnh Bình Định.

Phòng lũ tiểu mãn, lũ sớm, lũ muộn với tần suất 10%; Hạn chế tác hại của lũ chính vụ.

Cấp nước duy trì dòng chảy mùa kiệt với lưu lượng tối thiểu 3,0 m3/s, giảm xâm nhập mặn và bảo vệ môi trường sinh thái hạ lưu sông Kôn.

Kết hợp phát điện với công suất lắp máy N = 6,6 MW.

 

7

Ngàn Trươi

Cấp nước tưới cho 32.585 ha đất canh tác, 6.000 ha nuôi trồng thủy sản tại 8 huyện, thị xã phía Bắc Hà Tĩnh.

Tích nước và điều tiết lũ cho vùng hạ du với dung tích phòng lũ 157 triệu m3

Kết hợp phát điện gần 20 MW.

 

8

Văn Phong

Cấp nước tưới ổn định cho 28.060 ha đất nông nghiệp vùng dự án ( trong đó diện tích khu tưới Văn Phong là 10.815 ha).

Cấp nước cho công nghiệp nông thôn và nuôi trồng thủy sản.

Cấp nước cho dân sinh và chăn nuôi gia súc, gia cầm.

Cải thiện môi trường sinh thái trong khu vực, bảo vệ nguồn đất đai đồng ruộng và hạn chế xâm nhập mặn ở vùng cửa sông ven biển.

Kết hợp Phát điện Nlm=6MW

 

9

Bản Mòng Nghệ An

Cấp nước tưới cho 18.871 ha đất canh tác ven sông Hiếu.

Cấp nước cho sông Cả về mùa kiệt khoảng 22,0 m3/s.

Kết hợp Phát điện với công suất lắp máy 42,0 MW

 

Bảng trên cho thấy rõ ràng không thể tìm thấy công trình thủy lợi  mà có nhiệm vụ phát điện là chính.

-     Tác giả viết: Hoạt động thủy lợi có nhiều nội dung, trong đó có: đầu tư xây dựng công trình thủy lợi (kể cả hồ chứa cấp nước phục vụ phát điện); vận hành đập, hồ chứa nước (kể cả hồ chứa cấp nước phục vụ phát điện); bảo vệ và bảo đảm an toàn công trình thủy lợi, góp phần phòng, chống thiên tai. Đây là sự lồng ghép ý tưởng của tác giả vào thuật ngữ Hoạt động thủy lợi trong Luật Thủy lợi nhằm gắn thủy điện (là chính) vào hoạt động thủy lợi, theo đó có mấy vấn đề tác giả nêu ra chưa chuẩn xác: cụm từ “kể cả hồ chứa cấp nước phục vụ phát điện” là do tác giả tự gán ghép vào, trong luật Thủy lợi không có cụm từ nầy. Thuật ngữ Hoạt động Thủy lợi được ghi trong Luật Thủy lợi như sau:

2. Hoạt động thủy lợi bao gồm điều tra cơ bản, chiến lược, quy hoạch thủy lợi; đầu tư xây dựng công trình thủy lợi; quản lý, khai thác công trình thủy lợi và vận hành hồ chứa thủy điện phục vụ thủy lợi; dịch vụ thủy lợi; bảo vệ và bảo đảm an toàn công trình thủy lợi.

Như vậy Luật Thủy lợi nêu rõ hoạt động thủy lợi không xây dựng HCN thủy điện (mà có nhiệm vụ phát điện là chính) mà chỉ xây dựng HCN Thủy lợi và vận hành HCN Thủy điện phục vụ thủy lợi. Lấy ví dụ Hồ Thủy điện Sơn La không do BNN đầu tư xây dựng, tuy nhiên việc vận hành cấp nước nông nghiệp cho đồng bằng Bắc bộ hoặc phòng lũ hạ du có sự tham gia từ phía Bộ Nông Nghiệp. Xem thêm mục 2.1. Đọc giả cũng có thể thêm thông tin chi tiết từ bài báo "Phát triển thuỷ điện trên lưu vực sông Hồng,những vấn đề đặt ra với miền núi phía Bắc và vùng hạ lưu" của Ts Hoàng Văn Thắng, chủ tịch Hội đập lớn Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông Nghiệp và PTNT (/Web/Content.aspx?distid=5218) , trong đó có đoạn viết cho các dự án thủy điện lớn lưu vực sông Hồng:

-     Vào mùa khô, các hồ chứa lớn trên lưu vực Sông Hồng vận hành đảm
bảo dòng chảy môi trường, giao thông thủy, cung cấp nước cho sinh hoạt, công
nghiệp và vận hành tăng lượng xả nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
Trước và sau tết âm lịch hàng năm các hồ chứa – theo yêu cầu của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn đã xả 03 đợt, với tổng dung tích từ 4÷6 tỷ
m3 nước để phục vụ cho các hệ thống công trình thủy lợi (các trạm bơm, cống
lớn) lấy nước

-     Tại quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch phòng chống lũ và quy hoạch đê điều hệ thống Sông Hồng – sông Thái Bình(quyết định số 257/QĐ-TTg ngày 18 tháng 02 năm 2016), quy định các hồ Hòa Bình và Sơn La sử dụng dung tích 7 tỷ m3, hồ Tuyên Quang 1 tỷ m3 và hồ Thác Bà 0,45 tỷ m3 để điều tiết, cắt giảm lũ cho hạ du, nhiệm vụ trên được cụ thể hóa trong quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực Sông Hồng (tại quyết định số 740/QĐ-TTg ngày 17 tháng 6 năm 2019 v/v ban hành quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực Sông Hồng), nhờ các hồ chứa trên lớn trên lưu vực Sông Hồng, trong nhiều năm qua đã cắt, giảm lũ đảm bảo an toàn cho Thủ đô Hà Nội và các tỉnh, Thành phố ở hạ du”

Chính nhờ các công trình thủy điện này mà ngoài việc cấp nước cho nông nghiệp, công nghiệp, dân sinh…còn làm tần suất phòng lũ hạ du đồng bằng sông Hồng được cải thiện theo hướng an toàn hơn nhiều so với khi chưa xây dựng nó, xem bảng 2.

 

Bảng 2: Tần suất phòng, chống lũ hạ du đồng bằng sông Hồng.

           Tiêu chuẩn chống lũ

Nội Thành Hà Nội

Các vùng khác

1, Giai đoạn hiện tại, chống lũ tháng VIII -1971

-          Tần suất bảo đảm chống lũ %

0,8

0,8

-          Chu kỳ lặp lại năm :

125

125

                               2. Giai đoạn sau khi có hồ Tuyên Quang

Chống lũ – Tần suất bảo đảm chống lũ %

0,4

0,67

- Chu ky lặp lai. nãm.

250

150

3. Giai đoạn sau khi có hồ Sơn La, Tuyên Quang

a)        Trường hợp dung tích phòng lũ trên sông Đà 7 tỷ m3 nước

-  Tần suất bảo đảm chống lũ %                      0,2

-   Chu kỳ lặp lại, năm :                                    500

 

0,33             

300

b)    Trường hợp dung tích phòng lũ các hồ xây dựng trên sông Đà lớn hơn 7 tỷ m3 nước

-  Tần suất bảo đảm chống lũ %                       < 0,2

-  Chu kỳ lặp lại, năm :                                     > 500

 

< 0,33

    > 300

2.2             Những hạn chế, bất cập trong Luật Thủy lợi và văn bản dưới luật liên quan

-     Tác giả viết: “Luật Thủy lợi phân biệt hồ chứa thủy lợi và hồ chứa thủy điện, sử dụng các cụm từ: “hồ chứa nước thủy lợi”; “hồ chứa thủy điện phục vụ thủy lợi”; “hồ chứa nước thủy điện”; “liên hồ chứa phục vụ thủy lợi” là không phù hợp”. Kết luận này của tác giả có phần vội vả. Để làm rõ thêm, có thể lấy ví dụ về virus Covid 19 để dễ hình dung và ai cũng hiểu được. Như mọi người đã biết Covid 19 có nhiều biến thể: Delta, Alpha, Beta, Omicron. Biến thể Omicron còn được chia ra các biến thể cấp dưới (BA.4, BA.5, BA.2.12.1 và BA.2.74). Tại sao người ta phải chia ra nhiều biến thể mà không chỉ nói chung là Covid 19 trong điều trị và phòng ngừa. Rõ ràng  tuy là cùng Covid 19 nhưng  đặc tính của các biến thể khác nhau dẫn đến cách lây nhiễm, điều trị triệu chứng cũng khác nhau. Vậy HCN có cần phải phân biệt HCN thủy lợi, thủy điện …không? Xin trả lời là có đấy:  HCN thủy điện (phát điện là chính), HCN Thủy lợi (Theo cách hiểu trong luật Thủy lợi và Nghị định 114/2018/NĐ-CP) khác nhau rất lớn khi điều tiết xác đinh MNBT, MNC, Công suất phát điện …; Khác nhau trong quy trình khai thác vận hành; Khác nhau trong việc bảo toàn nước sau sử dụng….Đây là bản chất của 2 loại HCN. Do vậy việc phân biệt 2 loại HCN nầy là hợp lý. Ngoài ra còn phân biệt vận hành  HCN Thủy điện phục vụ thủy lợi (xem thêm mục 2.1 bài báo nầy). Thêm vào đó, theo phân công hiện nay của chính phủ, Công trình thủy điện (nhiệm vụ phát điện là chính) do Bộ Công Thương quản lý, Công trình Thủy lợi do Bô NN và PTNT quản lý nên việc phân loại HCN như trong luật Thủy lợi là phù hợp.

-     Tác giả có viết: “Điều 18 Luật Thủy lợi nói về đầu tư xây dựng đập, hồ chứa nước, nhưng chỉ yêu cầu thực hiện theo Điều 17, không có yêu cầu phải bảo đảm an toàn cho đập, hồ chứa nước, trong đó có an toàn cho người và tài sản vùng hạ du đập là còn thiếu, chưa đầy đủ”. Ở đây có 2 vấn đề: (1) Mục g, khoản 1 điều 17 có đề cập một trong các yêu cầu trong đầu tư xây dựng CTTL là:

g) Bảo đảm an toàn công trình thủy lợi.

chứ không phải như tác giả viết là không có yêu cầu. Ngoài ra (2) An toàn khu vực hạ du thuộc vấn đề nhiệm vụ công trình thủy lợi, thủy điện chứ không phải là yêu cầu thiết kế. Nếu nhiệm vụ thiết kế có yêu cầu chống lũ hạ du thì quy mô HCN phải đáp ứng nhiệm vụ nầy.  Tuy nhiên nhiệm vụ chống lũ hạ du còn tùy thuộc điều kiện tự nhiên của HCN và vùng hạ du của nó để luận chứng sự cần thiết, tính khả thi và quy mô. Để làm rõ hơn vấn đề này, xin phân biệt các khái niệm chống lũ Công trình và chống lũ hạ du. Chống lũ bản thân công trình là yêu cầu bắt buộc khi thiết kế HCN bất chấp nhiệm vụ của công trình là gì, còn phòng lũ hạ du là nhiệm vụ công trình (Có thể có hay không có), (Xem thêm thông tin ở bài “Một số vấn đề liên quan chống lũ công trình thủy lợi-thủy điện và phòng lũ hạ du /Web/ Content.aspx?distid=5261 ”)

-     Tác giả lại viết: “Thủ tướng Chính phủ đã thực hiện (nhưng chưa thực hiện hết) quyền này (quyền phân phối nước từ đập, hồ chứa nước cho các mục đích sử dụng khác nhau, bao gồm cả quyền xả bớt nước ở hồ chứa nước nhằm tạo dung tích trống chứa lũ đủ để đảm bảo an toàn cho vùng hạ du đập theo mức đảm bảo được xác định theo ý chí của nhà nước) khi ban hành quy trình vận hành liên hồ chứa trên 11 lưu vực sông, trong đó quy định các hồ chứa thủy điện phải tham gia cắt, giảm lũ, kể cả khi đập chắn nước đó thuộc sở hữu tư nhân, và bất kể hồ chứa có dung tích phòng lũ là bao nhiêu” Như đã nói ở trên yêu cầu chống lũ cho công trình thì không phải bàn, còn việc tham gia chống lũ hạ du cần phải được luận chứng chứ không thể như tác giả viết: “bất kể hồ chứa có dung tích phòng lũ là bao nhiêu”. Phần dung tích trống mà tác giả đề cập chính là dung tích kết hợp Vkh của HCN (Xem thêm thông tin ở bài /Web/Content.aspx?distid=5261” để rõ hơn về nhiệm vụ phòng lũ hạ du và phương pháp xác định Vkh nhằm mục đích phòng lũ hạ du)

-      Xin lấy một vài ví dụ để làm sáng tỏ:

Xả lũ thủy điện A Vương

Do ảnh hưởng cơn bão số 9 (KETSANA) trong các ngày từ 28 đến 30/09/2009 mưa to trên diện rộng khắp các tỉnh khu vực miền Trung và Tây Nguyên, đã ảnh hưởng nặng nề đến tình hình ngập lụt ở khu vực này. Hạ du của công trình thuỷ điện A Vương cũng không thoát khỏi tình cảnh chung của toàn khu vực. Vậy vai trò thủy điện A Vương trong con lũ nầy như thế nào?

Bảng 3: Một số thông số về thuỷ văn công trình thuỷ điện A Vương

TT

Thông số

Sông Vu Gia (tính đến Ái Nghĩa)

Sông Thu Bồn (tính tới Giao Thuỷ)

Nhà máy thuỷ điện A Vương

Giá trị

Tỷ lệ so với Vu Gia

%

Tỷ lệ so với Vu Gia+ Thu Bồn

%

1

Diện tích lưu vực (km2)

5180

3825

682

13,17

7,57

2

Tổng nguồn nước lưu vực/năm (tỷ m3)

8,55

9,15

2,23

14,39

6,95

Bảng trên cho thấy lưu vực A Vương quá bé so với toàn lưu vực bị ngập lụt nên khả năng chống lũ cho hạ du là không đáng kể. Tuy nhiên nhờ có thủy điện A Vương đã góp phần giảm nhẹ lũ lụt hạ du trong cơn bão số 9 so với không xây dựng thủy điện A Vương, xem số liệu thực đo ở bảng sau:

 

Bảng 4: Kịch bản trận lũ do cơn bão số 9 khi không và có xây dựng hồ A Vương



Kịch bản

Đỉnh lũ

Tổng lượng

Qđến

(m3/s)

Qxả max

(m3/s)

Wđến

106m3

Wxả

106m3

Nếu không có hồ A Vương

4268

4268

295,44

295,44

Có hồ A Vương

4268

2680

295,44

149,26

Bảng trên cho thấy trong trận lũ do bão số 9 gây ra, thực tế thuỷ điện A Vương đã: (1) điều tiết cắt được đỉnh lũ từ 4268m3/s xuống còn 2680m3/2; (2) điều tiết cắt tổng lượng nước xả xuống hạ du từ 299,44 triệu m3 nước chỉ còn 149,26 triệu m3 nước. Như vậy thuỷ điện A Vương đã góp phần cắt giảm nhẹ cho hạ du hệ thống Vu Gia - Thu Bồn. Nếu không có hồ A Vương trong trận bão số 9 thì tình hình ngập lụt hạ du sẽ xấu hơn, đồng bào hạ du sẽ vất vả hơn. Tuy là giảm nhẹ lũ hạ du so với trường hợp không có thủy diện A Vương, nhưng phải khẳng định Thủy điện A Vương không thể cắt lũ, chống lũ cho hạ du (đến Ái Nghĩa hoặc Giao Thủy) vì lưu vực của A Vương quá bé so với toàn bộ lưu vực bị ngập và dung tích hồ A Vương nhỏ hơn nhiều so với yêu cầu phòng lũ hạ du.

2.3             Quy định hồ chứa thủy lợi phải có nhiệm vụ kết hợp cắt giảm lũ nhưng không quy định tương tự cho hồ chứa thủy điện

Tác giả viết vì : “Quy định hồ chứa thủy lợi phải có nhiệm vụ kết hợp cắt giảm lũ nhưng không quy định tương tự cho hồ chứa thủy điện. Tuy thu hút được đầu tư nhưng dẫn tới việc lập, trình thẩm định, phê duyệt thiết kế đập, hồ chứa thủy điện có dung tích phòng lũ nhỏ hơn dung tích phòng lũ của hồ chứa thủy lợi và tổng dung tích phòng lũ của các hồ không đủ để đảm bảo an toàn về lũ cho vùng hạ du đập,.…”. Để làm sáng tỏ phát biểu nầy của tác giá Nguyễn Anh Tuân,  xin được thống kê một số công trình thủy lợi, thủy điện có nhiệm vụ phòng lũ ở nước ta để phân tích.

 

 

Bảng 5: Thống kê một số công trình thủy lợi, thủy điện có nhiệm vụ phòng lũ ở nước ta

TT

Tên công trình

Vkh (106m3)

Vsc

(106m3)

Vdtl

(106m3)

Ghi chú

1

Thủy điện Hòa Bình

3062

838

3900

 

2

Thủy điện Sơn La

3760

3190

6950

 

 

Tổng

6822

4028

10850

 

3a

Thủy lợi Cửa Đạt (0.1%)

0

388

387.6

Chống lũ công trình

3b

Thủy lợi Cửa Đạt (0.6%)

0

250

249.6

Phòng lũ hạ du

4

Thủy lợi tả Trạch

330.03

226

556

 

5

Thủy lợi Định Bình

119.91/

112

37.59

157.5

 

Người viết bài nầy thiếu thông tin đặc trưng Vkh, Vsc HCN Ngàn Trươi nên không đưa vào đây.

Số liệu thống kê bảng trên cho thấy nội dung mà tác giả đã phát biểu trái với thực tế hiện nay về HCN Thủy điện, Thủy lợi có nhiệm vụ phòng lũ hạ du ở nước ta, cụ thể: (Xem thêm thông tin ở bài “/Web/Content.aspx? distid=5261”)

-     Dung tích phòng lũ Vdtl thực tế của HCN thủy điện lớn hơn nhiều so với thủy lợi.

-     Dung tích kết hợp Vkh để tham gia phòng lũ hạ du công trình  Thủy điện lớn hơn nhiều so với công trình thủy lợi.

-     Theo quy trình QLVH thì dung tích phòng lũ phần kết hợp Vkh của hồ Cửa Đạt không có. Dung tích phòng lũ của hồ Cửa Đạt chỉ là phần siêu cao Vsc. Giá trị dung tích phòng lũ được ghi trong hồ sơ thiết kế (#250 triệu m3) là phần Vsc tuơng ứng khi phòng lũ hạ du có tần suất 0.6%.

-     Cái gọi là dung tích trống của tác giả KS. Nguyễn Anh Tuấn thực chất là dung tích kết hợp Vkh. Việc luận chứng Vkh và Vdtl cho công trình có nhiệm vụ phòng lũ hạ du (Có hay không, giá trị bao nhiêu?) có thể xem thêm thông tin ở bài “/Web/Content.aspx?distid=5261”.

2.4      Pháp luật về thiết kế đập, HCN hiện hành chưa có quy định cụ thể phải bảo đảm an toàn về lũ cho vùng hạ du đập đến mức độ nào (bảo vệ mùa màng hay bảo vệ đô thị và các khu vực dân cư khác?). Quy định về vận hành điều tiết lũ dường như chỉ xét cho an toàn công trình hồ đập mà chưa xét đến kinh tế dân sinh ở hạ du

Việc chống lũ công trình và phòng lũ hạ du đã được luật Thủy lợi nêu rõ tại điều 12:

4. Phục vụ đa mục tiêu, bảo đảm hài hòa giữa khai thác và bảo vệ tài nguyên, môi trường, phòng, chống thiên tai. Chú trọng cấp nước cho hải đảo, vùng ven biển, khu vực biên giới, miền núi và vùng ven hồ thủy điện.

Việc phòng lũ hạ du không thể ấn định cụ thể mà cần luận chứng việc lựa chọn dung tích kết hợp và mực nước trước lũ (có hay không? Giá trị là bao nhiêu?) cần căn cứ điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, đặc điểm công trình, qua phân tích tối ưu kinh tế-kỹ thuật, được thực hiện đồng thời với việc chọn mực nước dâng bình thường và mực nước siêu cao sao, chứ không thể ấn định theo ý chí của người quản lý được. Chi tiết xem phương pháp tiếp cận (Xem thêm thông tin ở bài “/Web/Content.aspx?distid=5261”).

2.5             Thực tế đó đòi hỏi áp dụng phương pháp mới thiết kế dung tích phòng lũ của hồ chứa theo lưu lượng xả lũ lớn nhất cho phép ứng với mức bảo đảm an toàn về lũ được xác định cho vùng hạ du đập.

Tác giả đề xuất phương pháp xác định các đặc trưng hồ chứa chỉ với 1 mục tiêu phòng lũ hạ du là chưa phù hợp thưc tế, trái với điều 12 luật Thủy lợi. Công trình thuỷ lợi phải là công trình đa mục tiêu:

4. Phục vụ đa mục tiêu, bảo đảm hài hòa giữa khai thác và bảo vệ tài nguyên, môi trường, phòng, chống thiên tai. Chú trọng cấp nước cho hải đảo, vùng ven biển, khu vực biên giới, miền núi và vùng ven hồ thủy điện.

III.               KẾT LUẬN

Tác giả KS. Nguyễn Anh Tuấn là một KS rất có tâm huyết với ngành, đã bỏ nhiều công sức để nghiên cứu các pháp luật xây dựng liên quan công tác quản lý an toàn đập (ATĐ), hồ chứa nước (HCN) của nước ta rất đáng biểu dương. Tuy nhiên một số ý kiến chưa thật phù hợp với Luật, Quy chuẩn, tiêu chuẩn, thông tư hiện hành và chưa phù hợp với thực tiển cần được cân nhắc.

Tuy có cơ hội tham gia nhiều dự án lớn thủy điện, thuỷ lợi nhưng cũng không tránh phần thiếu sót, rất mong đọc giả bỏ qua và bổ sung thêm./.

IV.               TÀI LIỆU THAM KHẢO

-               Luật Thủy lợi số 08/2017/QH14, ngày 19/06/2017

-               Luật Tài nguyên nước 17/2012/QH13, ngày 21/06/2012.

-               Nghị định 114/2018/NĐ-CP VỀ QUẢN LÝ AN TOÀN ĐẬP, HỒ CHỨA NƯỚC, ngày 04 tháng 09 năm 2018.

-               QCVN 04 - 05 : 2012/BNNPTNT, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, Công trình thủy lợi - các quy định, chủ yếu về thiết kế

-               Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực Sông Hồng số 740/QĐ-TTg, ban hành ngày 17 tháng 6 năm  2019 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt;

-               Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực Sông Kôn - Hà Thanh Số: 936/QĐ-TTg, ban hành ngày 30 tháng 7 năm 2018  của Thủ tướng chính phủ

-               Quy trình vận hành điều tiết HCN Tả Trạch, ban hành ngày 04 tháng 10 năm 2017, kèm theo Quyết định số 3955/QĐ-BNN-TCTL;

-               Quy trình vận hành điều tiết HCN trên lưu vực Sông Mã, ban hành ngày 13 tháng 02 năm 2018, kèm theo Quyết định số 214/QĐ-TTg

-               Giáo trình Thủy văn – ĐHTL

-               Thuyết minh chung Công trình Cửa Đạt giai đoạn TKKT, HCN NướcTrong

-               TCVN 10778 : 2015, Hồ chứa - Xác định các mực nước đặc trưng

-               Và một số tài liệu khác.

Đóng góp ý kiến về bài viết này 

Mới hơn bài này
Các bài đã đăng
Tiêu điểm
Biến đổi khí hậu và An ninh nguồn nước ở Việt Nam.[08/07/21]
Đại hội lần thứ IV, sự kiện lớn của Hội Đập lớn & Phát triển nguồn nước Việt Nam.[27/04/19]
Hội Đập lớn & Phát triển nguồn nước Việt Nam phấn đấu vì sự nghiệp phát triển thủy lợi của đất nước.[18/04/19]
Danh sách Hội viên tập thể đã đóng niên liễm 2018.[11/01/19]
Chùm ảnh Đại hội lần thứ 2 Hội Đập lớn Việt Nam.[13/08/09]
Nhìn lại 5 năm hoạt động của VNCOLD trong nhiệm kỳ đầu tiên.[10/08/09]
Thông báo về Hội nghị Đập lớn Thế giới.[17/07/09]
Thư chào mừng của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải
VNCOLD đã thành công tại cuộc họp Chấp hành ICOLD Sofia (Bulgaria), 6/6/2008
Phó Thủ tướng khai mạc Hội thảo “ASIA 2008.
Tạo miễn phí và cách sử dụng hộp thư @vncold.vn
Website nào về Thủy lợi ở VN được nhiều người đọc nhất?
Giới thiệu tóm tắt về Hội Đập lớn & Phát triển nguồn nước Việt Nam.
Download miễn phí toàn văn các Tiêu chuẩn qui phạm.
Đập tràn ngưỡng răng cưa kiểu “phím piano".
Đập Cửa Đạt
Lời chào mừng
Qu?ng c�o