» Mở tất cả ra       » Thu tất cả lại
English and French
Tìm kiếm



Bài & Tin mới
Thủy điện Nam Ngiep (tỉnh BORIKHAMXAY - CHDCND Lào) bắt đầu vận hành.[28/09/19]
Xây đập trong lưu vực Mekong dẫn tới thảm họa môi trường.[25/09/19]
Cát dùng trong xây dựng.[19/09/19]
Sông Hồng và nạn đào cát vô tội vạ.[18/09/19]
Cảnh báo Đồng bằng sông Cửu Long chỉ cao hơn mực nước biển 0,8m.[16/09/19]
Cống Lương Phú (Ba Vì, Hà Nội) & việc cải tạo các sông vùng Hà Nội.[14/09/19]
Bài học xử lý khủng hoảng truyền thông về sự cố môi trường.[12/09/19]
Về Dự án ‘Nam Thủy Bắc Điều’ ở Trung Quốc.[11/09/19]
Đọc sách có thể giúp giảm căng thẳng.[08/09/19]
Mekong: Trận ‘hạn hán thế kỷ’ nhìn từ quan điểm hạ lưu.[03/09/19]
Vỡ đập nhỏ ở Thái Lan.[01/09/19]
Gặp mặt nhân kỷ niệm 74 năm ngày truyền thống ngành Thủy lợi Việt Nam.[29/08/19]
Về công trình giảm sóng bảo vệ đê ở biển Tây.[27/08/19]
Mở đầu của các Đập đất & đá phủ màng địa kỹ thuật (GFRD).[23/08/19]
Phòng ngừa sạt lở ở đồng bằng sông Cửu Long và quản lý nhà nước.[22/08/19]
Đồng bằng sông Cửu Long phải tự cứu mình.[21/08/19]
Nghị định số 68/2019/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/08/2019.[20/08/19]
Hãng Truyền hình CNBC phỏng vấn Cố vấn Thương mại Nhà Trắng Peter Navarro.[18/08/19]
Sự cố tại các đập thủy điện Đắk Kar & Đắk Sin 1 (Dak Nông), 8/2019.[16/08/19]
 Số phiên truy cập

71497746

 
Quản lý xây dựng
Gửi bài viết này cho bạn bè

Chương trình PIM tại Hà Tĩnh [30/5/07]
-

Chương trình PIM tại Hà Tĩnh

                 Chi cục Thuỷ lợi Hà Tĩnh

(Hội thảo ”Mô hình PIM- Hiệu quả- Hiệu lực - Phát triển bền vững”,

TP Hạ Long, tháng 5/2007)


I- Thực trạng hoạt động của các  tổ chức thủy nông cơ sở ở Hà Tĩnh

     

         Theo số liệu điều tra và báo cáo của các huyện, thị xã tính đến nay toàn tỉnh có trên 255 tổ chức thủy nông cơ sở tham gia quản lý: 302 hồ chứa, 38 đập dâng, 336 trạm bơm, hệ thống kênh mương mặt ruộng. Hoạt động theo 4 loại mô hình quản lý:

- Mô hình HTX dịch vụ tổng hợp : 167 đơn vị

- Mô hình Hội sử dụng nước:  60 đơn vị

- Mô hình thủy nông do UBND xã quản lý, điều hành:  20 đơn vị

- Số còn lại là mô hình tổ, đội thủy nông do thôn, xóm quản lý.

Nhìn chung phần lớn các tổ chức thuỷ nông cơ sở hoạt động chưa hiệu quả (trừ một số mô hình Hội sử dụng nước do các Dự án hỗ trợ thành lập, tập huấn hoạt động bước đầu tương đối hiệu quả nhưng số này rấy ít), Đội trưởng và các thành viên các tổ chức đều do UBND xã hoặc HTX hay thôn, xóm cử ra để quản lý, vận hành các công trình thuộc địa phương mình quản lý. Thực chất số tổ chức này chỉ là tổ chức lấy nước đơn thuần theo thời vụ do UBND xã, HTX, hay thôn, xóm cử ra. Thù lao của các thành viên cũng được UBND xã hay thôn, xóm quy định không có sự bàn bạc, thông nhất với những người hưởng lợi. Tổ chức đội thuỷ nông hoạt động chưa nề nếp, chưa có quy chế hoạt động rõ ràng, thiếu vai trò người dân tham gia, người dân không được tham gia bàn bạc quyết định, không tham gia quản lý bảo vệ công trình…. Dẫn đến công tác điều tiết, phân phối nguồn nước chưa hợp lý và tiết kiệm, hiệu quả hoạt động chưa cao. Tuy nhiên, cũng có một số tổ chức hợp tác dùng nước được thành lập, cũng cố có vai trò người dân tham gia đóng góp vốn, công sức xây dựng công trình thuỷ lợi, tham gia vào việc quản lý khai thác công trình thuỷ lợi có hiệu quả, duy trì phát triển tốt như mô hình Hội sử dụng nước Phù Việt, Hội sử dụng nước xã Cẩm Lộc, HTX dùng nước Đức Vĩnh……

Trong khuôn khổ của Báo cáo tham luận này chúng tôi xin đề cập một vài mô hình tổ chức hợp tác dùng nước hiện có ở Hà Tĩnh được đánh giá là hoạt động hiệu quả; nguyên nhân, tồn tại cần giải quyết để nhân rộng, phát triển mô hình PIM trong thời gian tới.

 

II- Một số mô hình PIM hoạt động hiệu quả:

 

* Mô hình Hội sử dụng nước Cẩm Lộc- Cẩm Xuyên là mô hình hoạt động có hiệu quả. Được thành lập tháng 3 năm 2002 do dự án IFAD tài trợ hướng dẫn, thành lập tập huấn. Hội SDN có 700 hội viên, quản lý 01 đập dâng sông Quèn, 02 trạm bơm điện với công suất 1380 m3/h, 5,3 km kênh mương bê tông và 2,5 km kênh đất. Phục vụ tưới cho 160 ha lúa 2 vụ, 10 ha nuôi trồng thuỷ sản. Trước khi thành lập cơ sở vật chất, thiết bị của tổ chức thiếu thốn, diện tích tưới  chỉ là 35 ha/ vụ, sau một số năm hoạt động được sự đóng góp nhiệt tình của người dân, HSDN đã từng bước phát triển và đi vào hoạt động có hiệu quả. HSDN đã hoàn chỉnh được hệ thống thuỷ nông, diện tích tưới tăng lên 160 ha/ vụ, phục vụ tưới tiêu nước đảm bảo đầy đủ, kịp thời trong vụ sản xuất. Giảm chi phí tiền nước xuống mức thấp nhất từ trước đến nay tại xã và thấp hớn các HTX dịch vụ thuỷ lợi trong tỉnh. Có bộ máy quản lý tinh giảm gọn nhẹ hoạt động có hiệu quả, thực sự mang lại lợi ích cho các hội viên Hội sử dụng nước. Tăng năng suất cây trồng trên một đơn vị diện tích; trước đây khi chưa có HSDN năng suất lúa chỉ đạt 32 -38 tạ/ ha/ vụ, sau khi có HSDN ra đời năng suất lúa đã tăng lên đạt 45 – 55 tạ/ ha/ vụ. Trong khi đó chi phí chi phí tưới nước giảm xuống 60% so với khi chưa có HSDN, đời sống của các thành viên trong Ban quản lý hội được đảm bảo, chế độ phụ cấp hàng tháng được thanh toán đầy đủ kịp thời. Hội sử dụng nước xã Cẩm Lộc thực sự đã mang lại hiệu quả thiết thực cho sản xuất, góp phần xoá đói giảm nghèo cho người dân, công trình được quản lý tốt và bền vững. Là Hội SDN được nhiều lần tham gia báo cáo điển hình tại các cuộc Hội thảo về PIM ở tỉnh cũng như ở Bộ.

 

* Mô hình Hội sử dụng nước Phù Việt- Thạch Hà được thành lập tháng 2 năm 2003 dưới sự hướng dẫn của Tổ chức OXFAM Anh. Hội có 240 hộ, quản lý một trạm bơm với 2 máy, 1,3 km kênh mương. Được Tổ chức OXFam Anh  hỗ trợ đầu tư 415 triệu động, dân đóng góp 41 triệu đồng. Hội được UBND xã Phù Việt phê duyệt điều lệ hoạt động. Mức thu thuỷ lợi phí do đại hội hội viên quyết định có UBND xã tham gia ý kiến trên cơ sở yêu cầu chi phí thực tế. Khi  yêu cầu chi thực tế  cao hơn so với mức thu thì được điều chỉnh và ngược lại.

Qua điều tra đánh giá, đây là mô hình hoạt động có hiệu quả. Trước khi thành lập cơ sở vật chất, thiết bị của tổ chức thiếu thốn,  công trình chỉ tưới  được một vụ, ( 50 ha)sau một số năm hoạt động được sự đóng góp nhiệt tình của người dân, đảm bảo nguồn nước tưới, tiêu cho các hội viên, tăng một vụ thành 2 vụ, năng suất lúa tăng  0,8 –:- 1 tạ/ sào/ vụ so với trước đây khi chưa thành lập hội (tăng 40% so với trước); Cán bộ hội, người dân được đào tạo, tập huấn hiểu biết về cơ chế chính sách thuỷ lợi; không còn hiện tượng tranh chấp về nước căng thẳng như trước đây; việc thu thuỷ lơi phí tốt và kịp thời.

 

* Phân tích nguyên nhân Hội SDN hoạt động hiệu quả và bền vững:

Qua 2 mô hình Hội sử dụng nước nêu trên có thể đánh giá rằng tổ chức hợp tác dùng nước hoạt động có hiệu quả và bền vững khi các tổ chức này được mọi người dân tự nguyện tham gia; hoạt động dựa trên Quy chế, Điều lệ được các hội viên bàn bạc thông qua trước Đại hội và được UBND xã phê duyệt. Trước khi thành lập các Hội được tập huấn, hướng dẫn thành lập, Hỗ trợ kỹ thuật cho các hội viên cũng như cán bộ chủ chốt của chính quyền xã. Tổ chức bộ máy của Hội được các hội viên bầu ra, hội viên được tham gia từ quy hoạch, khảo sát thiết kế, xây dựng đến khi đưa công trình vào quản lý, vận hành, khai thác. Được tham gia xây dựng định mức thu chi, tham gia xây dựng điều lệ, quy chế của Hội, có quyền giám sát mọi hoạt động của Hội....

Quản lý tài chính theo nguyên tắc tự chủ, dân chủ công khai, hoạch toán độc lập. Hội viên có ý thức hơn trong công tác quản lý bảo vệ công trình, coi công trình là của mình; nên công tác bảo vệ, sửa chữa công trình cũng như sử dụng nước được tốt hơn, người dân đỡ vất vả trong việc lấy nước để sản xuất; thu, nộp thủy lợi phí tự giác hơn, phát huy được nội lực của các hội viên. Và một điều hết sức quan trọng đó là các Hội này được cấp chính quyền rất quan tâm, tạo điều kiện, trao quyền tự chủ về quản lý khai thác công trình cũng như tự chủ về tài chính.

 

III- Những tồn tại và nguyên nhân cản trở chương trình PIM phát triển

 

Phải nói rằng ở Hà Tĩnh đã có mô hình PIM hoạt động hiệu quả, được dân đồng tình có thể làm mô hình điểm để nhân rộng. Về cơ chế chính sách thì UBND tỉnh cũng đã sớm ban hành Quy chế hoạt động của Hội sử dụng nước quản lý khai thác các công trình thuỷ lợi trên địa bàn tỉnh để các tổ chức có cơ sở hoạt động. Tuy nhiên, nhìn chung công tác phát triển các tổ chức thuỷ nông có sở có sự tham gia của người dân trong thời gian qua chậm phát triển, có mô hình điểm nhưng chưa được nhân rộng trên địa bàn, nhiều mô hình được thành lập hoạt động dần dần kém hiệu quả, không tồn tại được lâu, theo chúng tôi có các nguyên nhân cần phải giải quyết như sau:

1- Về nhận thức và chỉ đạo:

- Chính quyền các cấp (nhất là ở cấp xã) chưa nhận thực rõ trách nhiệm của mình trong việc thực hiện chức năng nhà nước đối với công tác quản lý nhà nước về QLKTCTTL trên địa bàn, chưa tạo điều kiện cho mô hình PIM phát triển, chưa  thực sự trao quyền tự chủ cho các tổ chức HTDN hoạt động. Một số địa phương chính quyền không chỉ thực hiện chức năng quản lý nhà nước mà còn có hiện tượng cạn thiệp thông qua cơ chế tài chính của các tổ chức HTDN

- Một số nơi thực hiện chương trình PIM nhờ vào sự hỗ trợ trực tiếp của dự án, khi hết dự án thì mô hình PIM cũng kết thúc. Chính quyền các cấp chưa quan tâm chỉ đạo nên mô hình PIM chưa đạt được hiệu quả mong muốn.

- Hoạt động của tổ chức Hợp tác dùng nước phần lớn còn phụ thuộc sự điều hành trực tiếp của UBND xã, Hợp tác xã nông nghiệp chuyển đổi nhưng hoạt động yếu kém (trừ một số Hội SDN được thành lập có quy chế hoạt động rõ ràng)

- Nhiều nơi nông dân chưa nhân thức đầy đủ về trách nhiệm của mình trong việc thu- trả thủy lợi phí, quản lý vận hành, duy tu bảo dưỡng và bảo vệ công trình thủy lợi được giao, chưa thực sự coi đó là những tài sản của mình vì chưa hiểu biết đầy đủ về cơ chế chính sách và kỹ thuật, chưa qua đào tạo tập huấn cần thiết.

2- Vai trò của chính quyền:

        Chính quyền có vai trò hết sức quan trọng, là một trong những yếu tố đảm bảo tính bền vững của tổ chức HTDN.

         Nhưng hiện nay nhiều nơi chính quyền xã chưa tạo điều kiện cho Hội  hoạt động trên cơ sở thành lập Hội có đủ tư cách pháp nhân, tự chủ được tài chính. Chưa có sự chỉ đạo và có những quyết định đúng đắn, kịp thời, tạo hành lang cho Hội hoạt động có hiệu quả.

         Nhiều địa phương chính quyền cấp xã đang có hiện tượng muốn can thiệp vào hoạt động của Hội hoặc không muốn thành lập theo hướng PIM vì để mô hình HTX kiểu củ dễ can thiệp hơn. Chính quyền không muốn có PIM sẽ là cản trở, thu hẹp hành lang pháp lý Hội khó hoạt động hoặc hoạt động không hiệu quả.

3-Cơ chế chính sách:

Hệ thống cơ chế chính sách thủy nông chưa được đồng bộ, chưa thực sự phù hợp với thực tiễn hoặc khó thực thi.

4- Về tổ chức, cán bộ:

- Năng lực và trình độ của cán bộ quản lý và công nhân khai thác nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa QLKTCTTL. Nhiều huyện, thị xã không có cán bộ thủy lợi để tham mưu giúp UBND huyện về công tác thủy lợi trên địa bàn.

- Sự phối hợp giữa các Doanh nghiệp thủy nông với các Tổ chức dùng nước chưa chặt chẽ, chưa có sự ràng buộc lẫn nhau. Nhiều Doanh nghiệp rất khó khăn trong việc ký hợp đồng tưới tiêu, thu thủy lợi phí và việc hỗ trợ kỹ thuật cho các Tổ chức hợp tác dùng nước, các hộ sử dụng nước chưa làm được.

- Hầu hết các Tổ chức HTDN hoạt động chưa đúng theo quy chế hoạt động, quản lý và hạch toán rõ ràng, thậm chí có nhiều tổ chức chưa có quy chế hoạt động. Việc thu, chi thủy lợi phí đang còn tùy tiện, thanh quyết toán không rõ ràng.

5- Về đầu tư, nâng cấp, sửa chữa công trình:

- Các hệ thống công trình thủy lợi phần lớn xây dựng đã lâu năm, không đồng bộ; hàng năm bị thiên tai tàn phá, không đủ kinh phí để nâng cấp, sửa chữa nên bị xuống cấp nghiêm trọng.

 

IV-Đề xuất, kiến nghị:

 

Qua đúc rút những kinh nghiệm từ thực tế, để triển khai tốt chương trình PIM trong thời gian tới chúng tôi đề nghị cần tập trung vào những nội dung chính như sau:

     - Các Ngành, các cấp từ Bộ đến địa phương cơ sở phải thực sự quan tâm đến công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi và thống nhất cao để tập trung chỉ đạo các địa phương thành lập, củng cố các tổ chức hợp tác dùng nước có sự tham gia của người dân.

- Tăng cường công tác tổ chức hội thảo, tập huấn, nâng cao năng lực về Chương trình PIM cho chính quyền các cấp. Đặc biệt là cán bộ cấp xã; Xây dựng các mô hình điểm về công tác quản lý tưới có sự tham gia của người dân để nhân rộng trên địa bàn toàn tỉnh. Cần có kế hoạch lồng ghép vào các chương trình khác để vận động tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức cho người dân.

- Hệ thống cơ chế chính sách phải được bổ sung và hoàn thiện cho phù hợp để tạo hành lang pháp lý cho các tổ chức này hoạt động.

- UBND các xã, phường, thị trấn phải tạo điều kiện trao quyền tự chủ quản lý, khai thác bảo vệ các công trình thủy lợi, quyền tự chủ về tài chính cho các tổ chức HTDN có sự tham gia của người dân./.

 Thực hiện Thông tư số 75/2004/TT-BNN ngày  tháng năm 2004 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc Hướng dẫn  thành lập củng cố và phát triển  Tổ chức hợp tác dung nước, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Quyết định số 48/2005/QĐ/UBND-NL2 ngày 08/6/2005 của UBND tỉnh về việc ban hành quy chế hoạt động Hội sử dụng nước thuộc các công trình thuỷ lợi trên địa bàn tỉnh; các địa phương trong trỉnh triển khai thành lập, cũng cố các tổ chức hợp tác dung nước tạo điều kiện, phát huy vai trò của người dân thông qua các tổ chức của họ.

 

Đóng góp ý kiến về bài viết này 

Mới hơn bài này
Các bài đã đăng
Tiêu điểm
Đại hội lần thứ IV, sự kiện lớn của Hội Đập lớn & Phát triển nguồn nước Việt Nam.[27/04/19]
Hội Đập lớn & Phát triển nguồn nước Việt Nam phấn đấu vì sự nghiệp phát triển thủy lợi của đất nước.[18/04/19]
Danh sách Hội viên tập thể đã đóng niên liễm 2018.[11/01/19]
Chùm ảnh Đại hội lần thứ 2 Hội Đập lớn Việt Nam.[13/08/09]
Nhìn lại 5 năm hoạt động của VNCOLD trong nhiệm kỳ đầu tiên.[10/08/09]
Thông báo về Hội nghị Đập lớn Thế giới.[17/07/09]
Thư chào mừng của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải
VNCOLD đã thành công tại cuộc họp Chấp hành ICOLD Sofia (Bulgaria), 6/6/2008
Phó Thủ tướng khai mạc Hội thảo “ASIA 2008.
Tạo miễn phí và cách sử dụng hộp thư @vncold.vn
Website nào về Thủy lợi ở VN được nhiều người đọc nhất?
Giới thiệu tóm tắt về Hội Đập lớn & Phát triển nguồn nước Việt Nam.
Download miễn phí toàn văn các Tiêu chuẩn qui phạm.
Đập tràn ngưỡng răng cưa kiểu “phím piano".
Đập Cửa Đạt
Lời chào mừng
Qu?ng c�o