» Mở tất cả ra       » Thu tất cả lại
English and French
Tìm kiếm



Bài & Tin mới
Nhớ lại một số hoạt động & bài học ‘HOÀN CHỈNH THỦY NÔNG’ những năm 1970.[04/11/19]
Nước biển dâng sẽ gây ngập lụt lớn hơn rất nhiều so với mức đã từng được dự báo.[01/11/19]
Đập thủy điện Xayaburi (Lào) bắt đầu hoạt động.[31/10/19]
Hội thảo : Điện mặt trời tại hồ chứa thủy lợi.[30/10/19]
Trao đổi : Về sự cố cấp nước từ nhà máy nước sông Đà ở Hà Nội.[22/10/19]
Khánh thành tượng Cụ Trần Đăng Khoa.[21/10/19]
Góp ý cho đề án tăng cường công tác quản lý an toàn đập, hồ chứa.[18/10/19]
Sông Mekong đang chết: Trung Quốc không chỉ muốn xây đập để lấy điện.[16/10/19]
Kế hoạch triển khai nhiệm vụ phối hợp với Cục Quản lý Xây dựng công trình.[15/10/19]
Vài điều cơ bản về ô nhiễm không khí ở Hà Nội.[14/10/19]
Trung Quốc muốn gì ở tiểu vùng sông Mekong?[08/10/19]
Bản tin số 4_ ngày 1/10/2019.[03/10/19]
Đã cáo chung ngành ngành làm quy hoạch?[02/10/19]
Nước và nghịch lý thừa - thiếu.[1/10/19]
Thủy điện Nam Ngiep (tỉnh BORIKHAMXAY - CHDCND Lào) bắt đầu vận hành.[28/09/19]
Xây đập trong lưu vực Mekong dẫn tới thảm họa môi trường.[25/09/19]
Cát dùng trong xây dựng.[19/09/19]
Sông Hồng và nạn đào cát vô tội vạ.[18/09/19]
Cảnh báo Đồng bằng sông Cửu Long chỉ cao hơn mực nước biển 0,8m.[16/09/19]
 Số phiên truy cập

71735907

 
Quản lý Qui hoạch
Gửi bài viết này cho bạn bè

An toàn đập: một số vấn đề về thể chế, chính sách. (24/3/07)
-

 AN TOÀN ĐẬP :

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỂ CHẾ, CHÍNH SÁCH

Nguyễn Xuân Tiệp

Nguyên Phó Cục trưởng Cục Thủy lợi

Phó Giám đốc Trung Tâm KHCN

và PT Tài Nguyên Nước

An toàn đập là vấn đề lớn trong xây dựng và quản lý đập trên thế giới. Không phải ngẫu nhiên mà tại tất cả những hội nghị, hội thảo quốc gia và quốc tế đều dành sự quan tâm đặc biệt cho vấn đề này. Rải rác hàng năm vẫn xảy ra sự cố đập ở các nước. Khác với nhiều loại công trình hạ tầng khác khi bị xụp đổ thì thiệt hại chủ yếu chỉ trong phạm vi tại chỗ, đập bị vỡ tạo ra dòng nước có sức tàn phá cực kỳ lớn trên cả vùng rộng lớn ở hạ du. Trước đây, an toàn đập thường được xem xét khi thiết kế sao cho đạt các thông số kỹ thuật theo Qui phạm, Tiêu chuẩn. Hiện nay, an toàn đập được tiếp cận theo cách tổng hợp, từ khi thiết kế, thi công đến quá trình quản lý vận hành với các phương pháp phân tích, trang thiết bị tiên tiến theo dõi diễn biến của đập sau khi xây dựng cùng với những qui định nghiêm khắc về thể chế, chính sách. Vấn đề này sẽ lần lượt được đề cập đến trên website của VNCOLD.

BBT.

     

 I/ Tổng quan :

1-  Hồ chứa :

  Hồ chứa được xây dựng đều phục vụ đa mục tiêu, có các nhiệm vụ chủ yếu là điều tiết dòng chảy hỗ trợ cho việc cắt lũ, trữ nước phục vụ tưới, cấp nước cho sinh hoạt, phát điện, nuôi trồng thuỷ sản...

   Theo số liệu thống kê đến năm 2003 cả nước đã có 1967 hồ chứa có dung tích chứa từ 0,2 triệu M3 trở lên với tổng dung tích trữ là 24,82 tỷ m3 . Trong đó :

   +  10 hồ chứa phục vụ cho phát điện có dung tích 19 tỷ m3

   +  Số còn lại ( 1957 hồ ) phục vụ tưới cho gần 505.162 ha với tổng dung tích chứa 5,82 tỷ m3 và kết hợp phục vụ cho các mục đích khác

 

    Trong số 1957 hồ cấp nước tưới gồm có:                                                                                                

-      79 hồ có dung tích > 10 triệu m3, tổng dung tích trữ 3.913 m3 triệu, phục vụ tưới 330.643 ha

-      66   hồ có dung tích 5 - 10 triệu m3,  tổng dung tích trữ 446. triệu m3, phục vụ tưới 33.751 ha

-    442  hồ có dung tích 1 - 5 triệu m3, tổng dung tích trữ 890 triệu  m3, phục vụ tưới   70.612 ha

- 1.370 hồ có dung tích 1triệu m3  tổng dung tích trữ 571 triệu  m3,  phục vụ tưới  70.156 ha

 

     Trong số 42/64 tỉnh có hồ chứa thì 4 tỉnh Thanh hoá, Nghệ an, Hà tĩnh ( 3 tỉnh thuộc vùng dự án ), Đắc lắc có số lượng hồ chứa nhiều nhất ( 649 cái có dung tích lớn hơn 0,2 triệu m3 ) chiếm 33% so với tổng số ( nếu kể cả các hồ chứa có dung tích nhỏ hơn 0,2 triệu m3 thì tổng số hồ chứa của 4 tỉnh nói trên chiếm trên 50% tông số )

     Như vậy an toàn đập của các hồ chứa phục vụ nông nghiệp, không chỉ là đảm bảo an toàn thân đập, mà an toàn cho cả cụm công trình đầu mối hồ chứa

2- An toàn đập :

   Để hồ chứa phát huy được nhiệm vụ theo thiết kế, đảm bảo an toàn tính mạng và tài sản cho vùng hạ du thì an toàn của đập rất quan trọng và có tính quyết định hiệu quả của hồ chứa

 

   Thực trạng về an toàn đập :

   Đập là công trình đầu mối của hồ chứa. Mức độ an toàn của đập không chỉ phụ thuộc vào chính vào đập đó, mà còn phụ thuộc vào các công trình liên quan trong cụm công trình đầu mối ( tràn xả lũ, cống lấy nước, đập phụ và các cong trình phụ trợ khác phục vụ cho công tác quản lý như đường quản lý, nhà quản lý, phương tiện thông tin liên lạc...)

   Kết quả điều tra năm 1992 của Bộ thuỷ lợi cũ và năm 2002 của Cục thuỷ lợi - Bộ NN và PTNT đã phản ảnh thực trạng là :

  + Mức đảm bảo an toàn của hồ chứa chưa cao :

   -  Kích thước tràn xả lũ thiên nhỏ, mô hình thiết kế lũ không còn phù hợp với tình hình mưa lũ hiện nay. Đặc biệt là rừng đầu nguồn bị phá đã làm cho dòng chảy tập trung nhanh hơn, đe doạ an toàn đập về mùa mưa, thiếu nước về mùa khô làm cho hồ không phục vụ tốt mục tiêu cấp nước

   Qua số liệu số hồ chứa loại lớn gần đây được Bộ NN & PTNT đầu tư sửa chữa thì hầu hết tràn xả lũ đều phải mở rộng tăng từ 1,5 - 2 lần trong đó có khoảng 15 % thuộc hồ có dung tích trử 10 triệu m3

   -  Gần 100% số đập hiện có ở Việt nam là đập đất và phần lớn được xây dựng trong thời gian chiến tranh với điều kiện vật tư khó khăn, thi công bằng thủ công, gấp rút nên chất lượng đập chưa đảm bảo, đặc biệt có những hồ đã được xây dựng trên 70 năm...vì vậy hầu hết đập của hồ chứa đều có hiện tượng thấm nghiêm trọng, đe doạ đến an toàn của đập (trong đó có đập Kim sơn nằm trong vùng dự án nâng cấp )

   Theo số liệu điều tra thì hiện tượng thấm qua đập là khá phổ biến :

   Đối với hồ có dung tích > 10 triệu m3 có gần 50% số đập bị thấm

   Đối với hồ có dung tích < 10 triệu m3 có gần 15% số đập bị thấm

   Đối với hồ có dung tích từ 2 triệu m3 - 1 triệu m3 có gần 20% số đập bị thấm

 

   +  Các công trình liên quan :

   Cống lấy nước kể cả tràn xả lũ ..do sử dụng lâu ngày nên chất lượng beton, kết cấu xây đều bị xuống cấp, không đảm bảo an toàn

   Theo tài liệu điều tra của cục Thuỷ lợi thì :

   Đối với hồ có dung tích từ 5 - 10 triệu m3 có gần 45% số cống, 30% số tràn xả lũ bị hư hỏng cần sửa chữa

   Đối với hồ có dung tích 1 - 5 triệu m3 có gần 40% số cống, gần 40% số tràn xả lũ bị hư hỏng cần sửa chữa

    Đối với hồ có dung tích 0,2 - 1 triệu m3 có gần 60% số cống, gần 45% số tràn xả lũ bị hư hỏng cần sửa chữa

 

   +  Các công trình phục vụ cho quản lý :

   Theo báo cáo đánh giá của Cục thuỷ lợi thì hầu hết các đập của hồ chứa thì đường quản lý

chưa đảm bảo cho xe cơ giới tiếp cận để kiểm tra, ứng cứu khi công trình có sự cố, thậm chí một số hồ không có đường quản lý theo qui định( như Kim sơn - Hà Tĩnh )

   Các phương tiện thông tin, liên lạc, thiết bị quan trắc chưa được trang bị đầy đủ , dẫn đến khó khăn trong chỉ huy điều hành nhất là trong mùa mưa lũ

  Nhà quản lý, các trang thiết bị phục vụ cho quản lý hầu hết đều thiếu, không đảm bảo tiêu chuẩn qui định

 

  +  Tổ chức quản lý đập :

    Thực tế các đập thường bị vỡ ở Việt nam là loại vừa và nhỏ, loại đập này phần lớn do các xã, hợp tác xã qun lý, có nghĩa là loại đập này còn nhiều ẩn hoạ, nhưng cũng không có nghĩa là loại đập lớn chưa bị vỡ do đập đã đảm bảo an toàn ? các đập loại này đều do các doanh nghiệp nhà nước ( công ty thuỷ nông ) quản lý ( các công ty thuỷ nông Thanh hoá quản lý 11/ 600 hồ, tương tự công ty thuỷ nông Nghệ an quản lý 55/650...) có nhiều hư hỏng, đe doạ đến an toàn, nhà nước đã và đang tập trung đầu tư sửa chữa tốn kém, nhưng vẩn là mối lo ngại do nguồn tài chính đầu tư cho việc sửa chữa, nhất là đầu tư cho quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật, bền vững 

    Hầu hết các đập nhỏ vừa và nhất là đập nhỏ, đều do dân ( UBND Xã, Hợp tác xã ) quản lý, nhiều trường hợp đập đã có chủ quản lý, nhưng lại không có người quản lý thường xuyên ( chủ yếu là đập nhỏ ), có nghĩa là không có “chủ đích thực “đe doạ đến an toàn của đập, đã dẫn các trường hợp vỡ đập, gây nhiều thiết hại về người và của ( Đập Quán Hài – Nghệ An vỡ năm 1978, gây chết 27 người, đập Buôn Bông – Đăks Lăk vỡ năm 1990  gây chết 22 người và các trường hợp khác nữa, gây thiệt hại đáng kể cả về vật chất, tính mạng của dân…  

   Cục thuỷ lợi đã xây dựng chương trình an toàn hồ chứa đã đề xuất được các giải pháp để dảm bảo an toàn đập

   Nhưng thông qua nội dung của chương trình này mới thể hiện được một phần thực trạng do số liệu điều tra hạn chế hoặc chưa phân tích được đầy đủ, nhất là về quản lý để có cơ sở vững chắc xây dưng kế họach  đảm bảo an toàn đập. Nhiều đập không có đầy đủ các chỉ số về kỹ thuật như chiều cao đập, tính cơ lý của đất đắp đập ...điều đó chứng tỏ nhiệm vụ quản lý ( hồ sơ, tài liệu ) của đơn vị quản lý chưa thực hiện tốt, tiêu chí chọn đập để thống kê chỉ chú trọng dung tích hồ chứa, chưa chú ý chiều cao đập    ( Một số đập ở Thanh hoá, Đắk lăk có dung tích 200 -400 nghìn mét khối, nhưng chiều cao đập chỉ bằng 1 - 1,4 m, trong khi đó số ít đập có chiều cao trên 5m nhưng dung tích nhỏ hơn 200 nghìn m3, nếu bị vỡ sẽ gây thiệt hại lớn, lại không được thống kê, xem xét )    

   

II/  Thực trạng và tồn tại về thể chế, chính sách an toàn đập :

  

   Khung pháp lý về an toàn đập là căn cứ đảm bảo đập an toàn và bền vững :

   - Luật tài nguyên nước ( ký ban hành ngày 20/5/1998, hiệu lực từ 1/1/1999 ), nội dung liên quan an toàn đập tập trung ở chương V  đã qui định về khai thác, trách nhiệm, phạm vi bảo

vệ công trình thuỷ lợi

   -  Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi đã cụ thể hoá Luật tài nguyên nước đã được ký ban hành ngày 4/4/2001. Tính pháp lý về an toàn đập được thể hiện ở Chương III từ điều 21 đến 28 và chương IV từ điều 29 - 32

   Tuy nhiên Pháp lệnh cũng chưa có những qui định cũ thể về an toàn đập nhất là về tổ chức quản lý khép kín về an toàn đập và tuy đã có văn bản ( Nghị định số 140/2005/NĐ-CP ngày 11/11/2005 của Chính phủ ) đã có qui định cũ thể về trách nhiệm, xử phạt khi có hành vi phá hoại công trình thuỷ lợi nói chung, đập của hồ chứa nói riêng , nhưng việc thực thi còn có khoảng cách do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân các cơ quan có trách nhiệm, cơ quan chuyên nghành ít quan tâm chỉ đạo, kiểm tra đông đốc, thực hiên .    

  Hiện nay Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định 143/2003/NĐ - CP ngày 28/11/2003 nhưng cũng chỉ " Qui định chi tiết một số điều cũ thể của Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi ", cũng chưa cũ thể hoá được những điều khoản liên quan đến an toàn đập. Tuy vậy Nghị định này cũng đã tạo được khung pháp lý cho việc thực hiện một số nội dung liên quan đến an toàn đập như phê duyệt, thẩm định dự án nâng cấp sửa chữa công trình, nguồn tài chính, phạm vi bảo vệ công trình thuỷ lợi, trong đó có đập ( điều 25-28 ), đặc biệt là đã qui định nội dung chức năng quản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi ( điều 29 ), đã gắn khai thác công trình với bảo vệ an toàn, đặc biệt là gắn trách nhiệm của người hưởng lợi từ công trình thuỷ lợi tham gia phương án bảo vệ, xử lý sự cố ...( điều 22, 23 )

   Liên Bộ Tài chính - Nông nghiệp đã có thông tư Liên bộ số 90/1997/TTLT/TC-NN ngày 19/12/1997 hướng dẫn chế độ tài chính đối với doanh nghiệp thuỷ nông, thông tư 06/1998/TT-BNN-TCCB ngày 3/9/1998 hướng dẫn tổ chức và hoạt động của công ty thuỷ nông và quyết định số 211/1998/QĐ-BNN-QLN ngày 19/12/1998 qui định về chế độ sử dụng chi phí cho sửa chữa thường xuyên...Hiện nay các văn bản này ban hành trước Nghị định 143/ 2003  nên không còn phù hợp nhưng chưa được sửa đổi 

   Ngoài ra trong những năm gần đây Bộ NN và PTNT đã ban hành một số tiêu chuẩn ngành như 14 TCN 121- 2002 " Qui định về lập và ban hành qui trình vận hành điều tiêt " hồ chứa nước - công trình thuỷ lợi,  14 TCN 131- 2002 qui định trang thiết bị quản lý trong hệ thống công trình thuỷ lợi phục vụ tưới tiêu, TCXDVN 285 : 2002 " các qui định chủ yếu về thiết kế " - công trình thuỷ lợi, 14 TCN 100- 2001 Qui định " thiết bị quan trắc cụm đầu mối công trình thuỷ lợi các qui định chủ yếu về thiết kế bố trí " . Đây là văn bản qui định nội dung quan trắc, bố trị thiết bị quan trắc...Tuy nhiên trong thực tế quá trình thiết kế, xây dựng, quản lý ít quan tâm và cũng không có sự ràng buộc thực hiện những tiêu chuân của ngành đã qui định ngay từ khâu phê duyệt

   Hàng năm Bộ NN & PTNT đã có chỉ đạo cũ thể về an toàn đập thông qua các chỉ thị. Trước khi bước vào mùa mưa lũ Bộ đã cử các đoàn cán bộ xuống các tỉnh kiểm tra, đôn đốc thực hiện các yêu cầu về an toàn đập trên địa bàn tỉnh

   UBND các tỉnh đã cũ thể hoá các chủ trương, tổ chức triển khai thực hiện các qui định về an toàn đập, xây dựng các phương án về an toàn đập nhất là về mùa lũ và chỉ đạo các ngành, chính quyến các cấp trong tỉnh thực hiện các nhiệm vụ về an toàn đập đã được giao. Sở nông nghiệp và PTNT là cơ quan thường trực tham mưu cho  UBND tỉnh ban hành các cơ chế chính sách, chỉ đạo phòng chống lũ lụt, an toàn đập trên địa bàn tỉnh, thực hiện phương châm 4 tại chỗ

    Thực tế các cơ chế chính sách về an toàn đã tạo được khung pháp lý cho an toàn đập, nhưng thực thi các cơ chế chính sách đó còn có khoảng cách và thiếu bền vững  (nhất là chính sách tài chính còn bất cập - không có tài chính để mua vật liệu, vật tư dự phòng, mua sắm trang thiết bị phục vụ cho quản

 lý, không đủ vốn đầu tư cho vận hành, duy tu bảo dưỡng, sửa chữa lớn ... ). Khi có những sự cố xẩy ra thì việc xử lý còn lúng túng ( trường hợp hồ Kim sơn - Hà tĩnh )

 

III/  Tổ chức quản lý về an toàn đập :

      Hệ thống tổ chức : ( thể hiện trong chỉ thị 42 )

    Tổ chức quản lý về an toàn đập đã được phân công, phân cấp thống nhất từ trung ương đến địa phương, đảm bảo khép kin trên cơ sở của tổ chức chuyên ngành( sơ đồ A )

  +  Ở trung ương Bộ NN & PTNT là cơ quan quản lý đập cao nhất. Cục thuỷ lợi ( có phòng công trình ) là cơ quan thường trực tham mưu cho Bộ NN & PTNT thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về an toàn đập  trong cả nước .( ban hành các văn bản về an toàn đập, chỉ đạo, kiểm tra đôn đốc về an toàn đập ) .

  +  Ở địa phương UBND tỉnh là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về an toàn đập cao nhất trên địa bàn tỉnh .

    Sở NN & PTNT là cơ quan thường trực ( Chi Cục thuỷ lợi - Phòng thuỷ lợi ) tham mưu cho UBND Tỉnh về quản lý an toàn đập. Về mùa lũ thành lập Ban chỉ huy Chống lụt bão Tỉnh, huyện ( bao gồm các cơ quan liên quan kể cả cơ quan tư vấn, tài chính..), Ban chỉ huy chống lụt bão của hệ thống công trình, công trình chủ chốt, công trình quan trọng, nhất là đối với các hồ chứa vừa và lớn do các doanh nghiệp nhà nước quản lý, các hồ chứa vừa và nhỏ do các tổ chức của huyện, xã quản lý . Các ban này đều chịu sự chỉ đạo của ban chỉ huy chống lụt bão Tỉnh

   Các tổ chức này chỉ hoạt động chủ yếu trong mùa mưa lũ và những năm có lũ lụt lớn thì hoạt động của hệ thống tổ chức này chặt chẽ. Hết mưa lũ thì hầu như không còn hiệu lực về an toàn đập mà chỉ phục vụ cho yêu cầu cấp nước tưới.., nhất là cán bộ của bộ phận thường trực hầu hết không chuyên trách nên việc chỉ đạo về an toàn đập thiếu liên tục và thiếu toàn diện 

    

  Chỉ thị số 42/2000/CT-BNN-QLN ngày 17/4/2000: Về việc đẩy mạnh công tác tu bổ sửa chữa và tăng cường biện pháp quản lý đảm bảo an toàn các hồ chứa nước " đã phân công nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan, đơn vị liên quan bao gồm  :

1, Công ty Khai thác công trình thuỷ lợi có trách nhiệm :

2,  Sở Nông nghiệp & PTNT có trách nhiệm :

3, UBND các tỉnh, thành phố có trách nhiệm :

4,  Cục Quản lý nước & CTTL ( nay là Cục Thuỷ lợi ), có nhiệm vụ :

-   Thường trực giúp Bộ chỉ đạo công tác đảm bảo an toàn hồ chứa nước trên phạm vi cả nước

-  Kiểm tra đôn đốc các địa phương thực hiện các văn bản pháp luật về quản lý hồ chứa....

-  Thực hiện chế độ thường trực phòng chống lụt bão đảm bảo an toàn công trình....                                         

      

 

IV/          Về lực lượng quản lý :

    Bao gồm các cán bộ kỹ thuật, công nhân kỹ thuật, lao động thủ công..về số lượng thì không đủ, trình độ yếu kém do không được đào tạo

    Cán bộ, công nhân thuộc các công ty thuỷ nông hầu hết đã được đào tạo, nhưng vẩn còn trên 20 %  chưa được đào tạo và phần lớn lực lượng này trực tiếp quản lý các cống, đập, công trình đầu mối, kể cả những đập, cống có qui mô lớn. Đặc biệt lực lượng quản lý các đập, nhất là loại đập nhỏ trực thuộc huyện, xã thì hầu hết không được đào tạo, yếu kém về kỹ năng, kỹ thuật, làm việc thụ động, gặp nhiều khó khăn về năng lực quản lý và vận hành nhất là khi có sự cố xẩy ra còn yếu kém, khó khăn . Đó là chưa nói đến việc sử dụng các thiết bị, ứng dụng công nghệ hiện đại trong quản lý, an toàn đập còn rất hạn chế. Do đó cán bộ chuyên trách, cán bộ quản lý chưa đề xuất được kế hoạch, các yêu cầu về trang thiết bị cần thiết   ..

    Ngoài lực lượng cán bộ thường trực, cán bộ kỹ thuật, còn có lực lượng ứng cứu tại chỗ bao gồm đông đảo người dân trong vùng. Lực lượng này rất dồi dào và đã được sắp xếp để huy động theo kế hoạch, yêu cầu cụ thể trong trường hợp xẩy ra sự cố. Khi được huy động lực lượng này còn mang theo vật tư, dụng cụ để ứng cứu

    Riêng cán bộ ở các cấp quản lý bao gồm phần lớn cán bộ là không chuyên trách, kể cả cán bộ chính quyền, tuy có được đào tạo, nhưng ít được cập nhật các kiến thức, thông tin.nên không thể đảm bảo chuyên sâu đã hạn chế trong chỉ huy điều hành hiệu quả

    Huy động người dân tham gia vào việc bảo vệ, quản lý đập và gắn vai trò của chính quyền các cấp đảm bảo an toàn đập là tính ưu việt về an toàn đập ở Việt nam.

 

 V/      Đào tạo nâng cao năng lực : 

    Còn coi nhẹ việc đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ ( kể cả án bộ quản lý các cấp ), công nhân phục vụ an toàn đập, nên chưa xây dựng được kế hoạch, nội dung, chương trình đào tạo phù hợp với các yêu cầu của các đối tượng cũ thể.

    Hình thức đào tạo thông qua thông tin tuyên truyền cho người dân cũng chưa thường xuyên, chỉ mới đáp ứng trong mùa mưa lũ, chưa tạo được ý thức sâu sắc về trách nhiệm  cho người dân để bảo vệ an toàn đập trên địa bàn, hạn chế các vi phạm ảnh hưởng đến an toàn đập  

VI/     Tài chính :  

     Nguồn tài chính cho các yêu cầu an toàn đập đã được khẳng định trong các chính sách tuy

chưa đầy đủ, nhưng một số chính sách tài chính đã có qui định cũ thể cũng chưa đươc thực thi  ( kinh phí cho sửa chữa, nâng cấp đập, các công trình phụ trợ như đường quản lý, trang thiết bị quản lý, vật tư vật liệu dự phòng, kinh phí đào tạo nâng cao năng lực...) và hầu như nguồn tài chính đều không được đáp ứng đầy đủ, kịp thời, nhất là phần vốn đã phân cấp cho địa phương đ hộ trợ cho sửa chữa, vốn thu từ thuỷ lợi phí chi cho vận hành , duy tu bảo dưỡng ( vốn sửa chữa đập loại < 10 triệu m3, vốn mua sắm thiết bị, vật tư, đào tạo ) thường không đảm bảo số lượng theo yêu cầu

    Theo nội dung của chương trình an toàn hồ chứa Cục thuỷ lợi đề nghị giai đoạn đầu khoảng 3000 tỷ VNĐ tương đương gần 20 triệu USD. Đây là con số khiêm tốn mới chú trọng yêu cầu vốn sữa chữa nâng cấp, chưa đề cập được một cáh toàn diện cho vấn đề an toàn đập 

 

VII/  Những nguyên nhân chủ yếu của những tồn tại :

1.  Cơ chế, chính sách chưa đầy đủ, phù hợp đáp ứng yêu cầu thực tế về an toàn đập ( qui trình, qui phạm, tài chính..) và những cơ chế, chính sách đã ban hành thì tính hiệu lực chưa cao, thiếu trang thiết bị quản lý, vận hành, cảnh báo, dự báo..  

2.   Mọi người ( kể cả cán bộ ) nhận thức chưa đầy đủ về an toàn đập, còn nặng về xử lý sự cố xẩy ra, coi nhẹ việc quản lý, duy tu bảo dưỡng thường xuyên, để đảm bảo đập an toàn và bền vững

3.   Trình độ của đội ngũ, cán bộ, công nhân quản lý đập ( bao gồm cả quản lý nhà nước và quản lý vận hành ) chưa đáp ứng do chưa được quan tâm đào tạo, nâng cao các hiểu biết về kỹ năng, kỹ thuật về an toàn đập, đặc biệt là công nhân quản ký đập thì hầu như chưa được kinh qua đào tạo..nên đã hạn chế trong việc đề xuất và thực thi các cơ chế, chính sách, giải pháp kỹ thuật trong thiết kế, xây dựng, quản lý đập      

VIII/   Một số kiến nghị :

1. Xây dựng khung chiến lược về an toàn đập, làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách, kế hoạch an toàn đập toàn diện

2,  Hoàn thiện các cơ chế chính sách về an toàn đập ( chính sách tài chính, qui trình, qui phạm...)

3.  Tổ chức đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện các hồ chứa hiện có, đặc biệt liên hồ, trên cơ sở đó đề xuất cơ chế chính sách, nhất là chính sách đối với hồ đập nhỏ      

4.  Xây dựng mô hình mẫu quản lý an toàn đập để rút kinh nghiệm tổ chức quản lý đập tốt hơn

5.  Củng cố hệ thống tổ chức an toàn đập hiện nay, thực hiện việc phân công, phân cấp chặt chẽ, giữa TW, địa phương ( tỉnh, huyện, xã ) phát huy vai trò của người dân, cộng đồng, đáp ứng với yêu cầu trước mắt và lâu dài, vè an toàn đập

6.  Tổ chức đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ, công nhân quản lý đập cả cấp trung ương, địa phương, người dân có đầy đủ về nhận thức, kỹ năng, kỹ thuật phục vụ cho việc quản lý đập an toàn và hiệu quả

7. Tập trung đầu tư cho nâng cấp sửa chữa những hư hỏng của đập, trang thiết bị phục vụ cho bảo vệ, quản lý vận hành an toàn đập

8. Ứng dụng khoa học công nghệ mới trong quản lý vận hành, cảnh báo, dự báo đảm bảo an toàn đập

9. Lập ngân hàng dự liệu về đập phục vụ cho quản lý an toàn đập

10.  Tổ chức phổ biến tuyên truyền nội dung an toàn đập cho mọi người dân nhằm nâng cao hiểu biết cho họ, phát huy vai trò của người dân tham gia vào quản lý đập an toàn  ./.

 

 

Đóng góp ý kiến về bài viết này 

Mới hơn bài này
Các bài đã đăng
Tiêu điểm
Đại hội lần thứ IV, sự kiện lớn của Hội Đập lớn & Phát triển nguồn nước Việt Nam.[27/04/19]
Hội Đập lớn & Phát triển nguồn nước Việt Nam phấn đấu vì sự nghiệp phát triển thủy lợi của đất nước.[18/04/19]
Danh sách Hội viên tập thể đã đóng niên liễm 2018.[11/01/19]
Chùm ảnh Đại hội lần thứ 2 Hội Đập lớn Việt Nam.[13/08/09]
Nhìn lại 5 năm hoạt động của VNCOLD trong nhiệm kỳ đầu tiên.[10/08/09]
Thông báo về Hội nghị Đập lớn Thế giới.[17/07/09]
Thư chào mừng của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải
VNCOLD đã thành công tại cuộc họp Chấp hành ICOLD Sofia (Bulgaria), 6/6/2008
Phó Thủ tướng khai mạc Hội thảo “ASIA 2008.
Tạo miễn phí và cách sử dụng hộp thư @vncold.vn
Website nào về Thủy lợi ở VN được nhiều người đọc nhất?
Giới thiệu tóm tắt về Hội Đập lớn & Phát triển nguồn nước Việt Nam.
Download miễn phí toàn văn các Tiêu chuẩn qui phạm.
Đập tràn ngưỡng răng cưa kiểu “phím piano".
Đập Cửa Đạt
Lời chào mừng
Qu?ng c�o