An ninh nguồn nước tại Đồng bằng sông Cửu Long [Trương Hồng Sơn]
26/07/2026 08:53
An ninh nguồn nước tại Đồng bằng sông Cửu Long [Trương Hồng Sơn]
Loạt bài viết gồm 04 kỳ của TS. Trương Hồng Sơn (Trường Đại học Thủy lợi) đăng trên Báo Nông nghiệp và Môi trường đã phân tích về thực trạng và các giải pháp chiến lược cho an ninh nguồn nước tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Loạt bài viết này đặt vấn đề an ninh nguồn nước ĐBSCL vào nhóm vấn đề an ninh phi truyền thống cấp quốc gia, đòi hỏi những giải pháp đột phá và bền vững trước các tác động tiêu cực từ thượng nguồn và biến đổi khí hậu.
Loạt bài viết phân tích thực trạng mất an ninh nguồn nước tại Đồng bằng sông Cửu Long, nơi đang đối mặt với các tác động kép từ biến đổi khí hậu, nước biển dâng và việc xây dựng đập thủy điện thượng nguồn. Tình trạng này dẫn đến hệ quả nghiêm trọng như xâm nhập mặn sâu, sụt lún đất và làm suy giảm dân số cùng các giá trị kinh tế bền vững của vùng. Các nguồn tin cho rằng những giải pháp thích ứng tự nhiên hiện nay là chưa đủ để đối phó với những kịch bản cực đoan. Nhóm tác giả đề xuất một chiến lược đột phá là xây dựng hệ thống công trình kiểm soát tại các cửa sông lớn nhằm biến những dòng sông thành các hồ chứa nước ngọt khổng lồ. Phương án này dựa trên kinh nghiệm hạ tầng của nhiều quốc gia như Hà Lan, Anh và Hàn Quốc để bảo vệ vựa lúa quốc gia một cách chủ động. Tổng thể các bài báo nhấn mạnh sự cần thiết phải có những hành động can thiệp kỹ thuật quy mô lớn và đồng bộ trong vòng 10-15 năm tới để cứu vãn hệ sinh thái khu vực.
Nội dung cốt lõi của từng bài viết:
Bài 1: Khi 'vựa lúa' mất dần khả năng giữ chân con người
Bài viết mở đầu bằng việc chỉ ra một nghịch lý: dù là trụ cột kinh tế và đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, ĐBSCL đang đối mặt với cuộc khủng hụt dân số và suy giảm giá trị gia tăng. Tỷ trọng đóng góp GDP của vùng giảm mạnh, trong khi tỷ suất di cư thuần ròng âm cao nhất cả nước. Nguyên nhân cốt lõi được xác định là do sự dịch chuyển có tính cấu trúc của chế độ thủy văn: hệ thống 128 hồ chứa thủy điện thượng nguồn làm suy giảm dòng chảy mùa kiệt vĩnh viễn (giảm từ 13-36%) và giữ lại tới 67-83% lượng phù sa. Điều này dẫn đến hiện tượng nghịch lý: lũ ngày càng ít nhưng hạn mặn ngày càng nghiêm trọng.
Bài 2: 'Vòng xoáy suy thoái' khó đảo ngược
Tác giả phân tích sâu hơn về các mối đe dọa từ sụt lún đất và nước biển dâng. Hiện nay, tốc độ sụt lún tại ĐBSCL (trung bình 1,1cm/năm) đang nhanh gấp 3 đến 12 lần tốc độ nước biển dâng, khiến gần một nửa diện tích vùng có nguy cơ chìm dưới mực nước biển vào năm 2050. Bài viết cảnh báo về 04 "vòng xoáy phản hồi" tiêu cực – từ việc thiếu nước mặt dẫn đến khai thác nước ngầm quá mức gây sụt lún, đến việc hạn mặn gây thiệt hại nông nghiệp đẩy người dân di cư. Tác giả nhấn mạnh ĐBSCL đang tiến gần đến "điểm tới hạn" và dư địa thời gian để hành động hiệu quả chỉ còn khoảng 10-15 năm.
Bài 3: Biến sông thành các 'siêu hồ chứa nước'
Dựa trên việc phân tích giới hạn của các giải pháp "thuận thiên" hiện hành (như trữ nước phân tán hay xây hồ chứa nổi gây mất đất nông nghiệp), tác giả đề xuất giải pháp đột phá: xây dựng hệ thống công trình kiểm soát nguồn nước (CTKSNN) tại 7 cửa sông lớn ra biển. Giải pháp này nhằm tận dụng lòng sông tự nhiên làm các "siêu hồ chứa" với dung tích trữ có thể đạt 20-30 tỷ m³ nước ngọt mà không tốn diện tích đất. Triết lý của giải pháp là chuyển từ phòng thủ cục bộ sang chủ động kiểm soát tại cửa sông, vận hành linh hoạt theo chế độ "mở - thường, đóng - khi cần" để vừa ngăn mặn, vừa đảm bảo lưu thông phù sa và giao thông thủy.
Bài 4: Kinh nghiệm 'biến sông thành hồ nước ngọt'
Bài cuối cùng đúc kết kinh nghiệm từ các dự án quốc tế tương tự như Delta Works (Hà Lan), Thames Barrier (Anh), hay Saemangeum (Hàn Quốc) để áp dụng cho ĐBSCL. Tác giả đề xuất 03 nguyên tắc xác định vị trí công trình: tách biệt vùng ngọt - mặn theo quy hoạch sử dụng đất, kết hợp cầu giao thông ven biển và đảm bảo điều kiện thủy lực môi trường. Lộ trình triển khai được kiến nghị chia thành 03 pha kéo dài khoảng 25 năm, đi từ các công nghệ đã chứng minh đến các công nghệ mới (đập hộp chìm, đập tàu thủy), nhằm đảm bảo tính khả thi về ngân sách và kỹ thuật cho vùng ĐBSCL.