An ninh nguồn nước Lưu vực sông Ba

30/07/2026 08:07

29

An ninh nguồn nước lưu vực sông Ba- Thách thức và giải pháp thích ứng

Lưu vực sông Ba là một trong những lưu vực sông liên tỉnh lớn nhất khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, đóng vai trò hạt nhân trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh lương thực, năng lượng và cân bằng sinh thái cho các tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk và Phú Yên. Tuy nhiên, trước tác động kép của biến đổi khí hậu cực đoan và áp lực gia tăng từ quá trình phát triển hạ tầng, an ninh nguồn nước trên lưu vực sông Ba đang đứng trước những thách thức chưa từng có.

1. Tổng quan về lưu vực sông Ba

Sông Ba (còn gọi là sông Đà Rằng ở hạ lưu) có tổng diện tích lưu vực khoảng 13.900 km², bắt nguồn từ dãy núi Ngọc Linh (tỉnh Kon Tum) chảy qua Gia Lai, Đắk Lắk và đổ ra Biển Đông tại cửa Đà Diễn (thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên). Tổng lượng tài nguyên nước mặt trung bình năm của lưu vực đạt khoảng 11,35 tỷ m³ (chiếm 85%), cùng lượng tiềm năng nước dưới đất khoảng 2,02 tỷ m³ (chiếm 15%).

Đặc điểm nổi bật của lưu vực sông Ba là sự phân bố dòng chảy lệch pha sâu sắc theo thời gian và không gian: mùa mưa (lũ) diễn ra ngắn nhưng chiếm tới 78% tổng lượng nước cả năm; trong khi mùa kiệt kéo dài 7–9 tháng chỉ đóng góp vỏn vẹn 22% lượng dòng chảy.

Sơ đồ cấu trúc phân vùng và dòng chảy lưu vực sông Ba

Tương tự như cấu trúc sông Vu Gia - Thu Bồn, hệ thống dòng chảy và điều tiết trên lưu vực sông Ba có thể tóm tắt theo chuỗi phân vùng thủy văn chính từ thượng nguồn ra biển như sau:


                      SƠ ĐỒ HỆ THỐNG DÒNG CHẢY VÀ ĐIỀU TIẾT LƯU VỰC SÔNG BA

 [ THƯỢNG LƯU - GIA LAI ]
   Nguồn sông Ba (Mang Yang / An Khê)
     
     ├──► Cụm Thủy điện An Khê - Ka Nak ────> (Chuyển dòng Qchuyển) ───► [ LVS Kôn - Bình Định ]
     
     
   Thủy điện Krông H'Năng / Hồ Ayun Hạ (Sông Ayun)
     
     
 [ TRUNG LƯU - GIA LAI / ĐẮK LẮK / PHÚ YÊN ]
   Thủy điện Sông Ba Hạ (Củng Sơn) ◄────── (Nhập lưu: Sông Krông H'Năng, Krông Năng)
     
     ├──► Thủy điện Sông Hinh (Hồ Sông Hinh) ───(Nhập lưu hạ lưu)
     
     
 [ HẠ LƯU - ĐỒNG BẰNG TUY HÒA - PHÚ YÊN ]
   Hệ thống đập dâng Đồng Cam ──────► Hệ thống Kênh Nông nghiệp Đồng bằng Tuy Hòa
     
     
   Cửa Đà Diễn (Thành phố Tuy Hòa) ──────► BẮC VÂN PHONG / BIỂN ĐÔNG

2. Hiện trạng sử dụng nước và các thách thức an ninh nguồn nước

a) Suy giảm dòng chảy cực đoan mùa cạn và áp lực gia tăng nhu cầu nước

Theo các nghiên cứu dự báo biến đổi khí hậu, tổng lượng dòng chảy mùa cạn trên lưu vực sông Ba có xu hướng suy giảm cực đoan từ 10% đến 30% tại các trạm thượng lưu và trung lưu. Đặc biệt, trị số dòng chảy ngày nhỏ nhất có nguy cơ giảm mạnh từ 54% đến 55% tại trạm An Khê và Củng Sơn trong các đợt El Niño kéo dài. Trong khi đó, nhu cầu sử dụng nước toàn lưu vực dự báo sẽ gia tăng mạnh mẽ từ 2.106 triệu m³/năm (hiện trạng) lên 2.524 triệu m³/năm vào năm 2030 và đạt 3.248 triệu m³/năm vào năm 2050, gây áp lực khổng lồ lên khả năng tự cân bằng nguồn nước của lưu vực.

b) Chỉ số tích trữ nguồn nước thấp và sự bất lực của hồ chứa trước lũ cực đoan

Tổng dung tích tích trữ của 12 hồ chứa lớn, quan trọng trong lưu vực đạt khoảng 1,611 tỷ m³. Tỷ lệ tích trữ nguồn nước đạt:

Chỉ số tích trữ = 1,611 tỷ m³ / 11,35 tỷ m³ = 14,2%

Chỉ số 14,2% thể hiện năng lực chủ động điều tiết nguồn nước của hệ thống hồ chứa trên lưu vực sông Ba ở mức rất thấp. Bài học từ trận lũ lịch sử tháng 11/2025 cho thấy: tổng lượng lũ đổ về 5 hồ chứa lớn nhất lên tới gần 2,93 tỷ m³ (hồ Sông Ba Hạ hứng chịu 1,975 tỷ m³ trong 48 giờ), nhưng dung tích phòng lũ khả dụng còn lại của Sông Ba Hạ chỉ là 66,2 triệu m³ (tương đương 3,3% tổng lượng lũ đến). Do đó, tỷ lệ cắt đỉnh lũ của hồ Sông Ba Hạ gần như bằng 0 (chỉ đạt 0,03%), buộc phải chuyển sang chế độ xả lũ bảo vệ đập với lưu lượng đỉnh kỷ lục 16.100 m³/s.

c) Tác động tiêu cực của chuyển dòng và các thách thức nhân tạo mới

 Mặt trái chuyển dòng liên lưu vực: Cụm thủy điện An Khê - Ka Nak chuyển dòng nước từ sông Ba sang lưu vực sông Kôn (Bình Định) gây suy kiệt dòng chảy nghiêm trọng dọc đoạn sông hạ lưu An Khê, làm gia tăng mâu thuẫn khai thác nước giữa Gia Lai và Phú Yên.

 Vận hành xả điện lệch pha: Việc phát điện tập trung vào giờ cao điểm của hệ thống điện gây biến động dòng chảy ngày đêm thất thường ở hạ du, không khớp với lịch lấy nước nông nghiệp.

 Nghịch lý ngập lụt do hạ tầng giao thông: Các tuyến đường bộ đắp nền cao (3–5m) như cao tốc Bắc - Nam, Quốc lộ 1A chạy vuông góc với hướng thoát lũ tự nhiên (Tây - Đông), hoạt động như những "con đê chắn nước". Khi cống thoát nước ngang đường quá nhỏ hoặc bị rác cản trở, dòng lũ dềnh ngược lên biến nhiều vùng trũng như Hòa Thịnh (Phú Yên) thành túi chứa nước ngập sâu tới 5m.

 Đô thị hóa lấn sông: San lấp bãi bồi, xây dựng kè bê tông cứng lấn sát hành lang thoát lũ phía Nam Tuy Hòa làm thu hẹp lòng dẫn, tăng vận tốc dòng chảy và dồn áp lực ngập lụt sang các khu vực lân cận.

3. Định hướng quy hoạch và giải pháp nâng cao ANNN

Nhóm giải pháp

Chi tiết nội dung thực hiện

 

Giải pháp công trình & Tạo nguồn mới

Nâng cao đỉnh đập: Nghiên cứu giải pháp cải tạo, nâng cao đỉnh đập hiện hữu để mở rộng dung tích tích nước và phòng lũ chủ động (tham khảo nghiên cứu của JWA Nhật Bản).

Đập ngầm bồi tích (Sub-surface dams): Xây dựng đập ngầm trong tầng bồi tích ở các tiểu vùng khô hạn thượng/trung lưu để giữ nước dưới đất trong mùa khô mà không mất đất sản xuất hay tăng bốc hơi.

Bổ cập nhân tạo nước dưới đất: Xây dựng hào thấm, bể thấm nhân tạo tại đồng bằng Tuy Hòa để thu trữ nước mưa, giảm suy giảm mực nước đất và chống nhiễm mặn tầng qp.

Quản lý & Điều hành thông minh

Chuyển đổi DSS thời gian thực: Nâng cấp Quy trình 878 từ tĩnh sang vận hành động dựa trên Hệ thống hỗ trợ ra quyết định (DSS) thời gian thực và mạng lưới quan trắc tự động.

Bảo vệ dòng chảy tối thiểu: Ràng buộc pháp lý về duy trì dòng chảy môi trường sau đập; cấm gia tăng lượng nước chuyển dòng An Khê - Ka Nak sang sông Kôn trong mùa kiệt.

Thể chế & Quản trị lưu vực

Thành lập Ủy ban Lưu vực sông Ba: Xóa bỏ chia cắt địa giới hành chính giữa Gia Lai, Đắk Lắk và Phú Yên; trao quyền điều phối kịch bản phân bổ nước và vận hành liên hồ chứa cho Ủy ban.

4. Một số kiến nghị trọng tâm

1. Cập nhật kịch bản kiệt cực đoan: Đưa kịch bản dòng chảy mùa cạn suy giảm 10%–30% (tần suất P = 95%) vào tính toán cân bằng và phân bổ tài nguyên nước.

2. Tái định nghĩa vai trò cắt lũ của hồ chứa: Chấm dứt kỳ vọng các hồ thủy điện cắt tuyệt đối lũ cực đoan. Nguyên tắc hàng đầu trong lũ lớn cực đoan là bảo đảm an toàn tuyệt đối công trình đập; cắt lũ hạ du chỉ thực hiện trong phạm vi dung tích phòng lũ thiết kế.

3. Tích hợp quy hoạch hạ tầng giao thông: Bắt buộc áp dụng quy chuẩn "độ thông suốt thủy lực" đối với các dự án đường đắp cao qua vùng thoát lũ, khuyến khích chuyển đổi sang phương án "cầu cạn hóa".

4. Áp dụng công nghệ tạo nguồn hiện đại: Ưu tiên nguồn vốn đầu tư cho đập ngầm bồi tích, bổ cập nhân tạo nước dưới đất và nâng đỉnh đập.

5. Dự án Quy hoạch TNN Lưu vực sông Ba thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến 2050

l Quản lý chuyển dòng liên lưu vực: Vu Gia - Thu Bồn (với công trình Đăk Mi 4 chuyển nước từ Vu Gia sang Thu Bồn) là bài học điển hình về việc phải quy định ngưỡng khống chế lưu lượng chuyển dòng theo thời gian thực và ràng buộc trách nhiệm pháp lý đối với việc bồi hoàn dòng chảy kiệt cho lưu vực bị chuyển dòng.

l Kinh nghiệm nâng đỉnh đập của JWA (Nhật Bản): Bài toán nâng cao đỉnh đập hiện hữu do Cơ quan Tài nguyên Nước Nhật Bản (JWA) nghiên cứu áp dụng cho hệ thống hồ chứa Vu Gia - Thu Bồn chứng minh khả năng tăng dung tích phòng lũ tích cực mà không gây xáo trộn giải phóng mặt bằng lớn. Giải pháp này hoàn toàn phù hợp để tích hợp vào danh mục ưu tiên cho sông Ba.

l Đánh giá tác động thủy lực giao thông liên vùng: Tích hợp quy hoạch giao thông vào quy hoạch thoát lũ tại Vu Gia - Thu Bồn giúp sông Ba giải quyết căn cơ các "rốn lũ nhân tạo" do đắp nền đường cao tốc và quốc lộ.


Hội Đập lớn và Phát triển Nguồn nước Việt Nam (VNCOLD)

Website: www.vncold.vn