Lũ quét, lũ bùn đá- góc nhìn khoa học
21/07/2026 09:35
NHẬN DIỆN KHOA HỌC QUA TRẬN LŨ BÙN ĐÁ TẠI MƯỜNG THAN
Trận lũ quét, lũ bùn đá nghiêm trọng xảy ra ngày 17/07/2026 tại Mường Than (Tân Uyên, Lai Châu) tiếp tục là một lời cảnh báo đau xót về sự khốc liệt của thiên tai miền núi. Để giúp hội viên và bạn đọc có góc nhìn khoa học, toàn diện về hiện tượng này, BBT tổng hợp phân tích về bản chất tai biến, các nghiên cứu hiện có và góc nhìn chuyên môn về đợt lũ vừa qua.
1. Phân biệt các khái niệm tai biến địa chất - thủy văn
Trong công tác quản lý và truyền thông, việc nhầm lẫn giữa các hình thái thiên tai thường dẫn đến sự chủ quan trong ứng phó. Cần phân định rõ các khái niệm:
Sạt lở, trượt lở đất (Landslide): Hiện tượng khối đất, đá trên mái dốc di chuyển xuống dưới do tác động của trọng lực, thường xảy ra khi đất bão hòa nước làm giảm lực liên kết.
Sạt trượt tầng nông (Shallow landslide): Là dạng trượt lở xảy ra ở lớp đất thổ dưỡng hoặc tầng phong hóa nông (thường từ vài chục xentimét đến 2–3 mét) nằm trên nền đá gốc vững chắc. Dạng sạt trượt này rất nhạy cảm với các đợt mưa lớn ngắn hạn.
Lũ quét (Flash flood): Trận lũ xuất hiện bất ngờ, dòng chảy có vận tốc lớn, khả năng tàn phá cao, thường hình thành trên các lưu vực sông suối nhỏ vùng núi có độ dốc lớn sau những trận mưa cường suất cao.
Lũ bùn đá (Debris flow): Dạng dòng chảy hỗn hợp gồm nước, bùn, cát, đá cuội và vật liệu hữu cơ (cây cối) di chuyển với tốc độ rất nhanh. Dòng lũ này có khối lượng riêng lớn, sức va đập và sức tải cực kỳ hung dữ.
2. Nguyên nhân cốt lõi gây sạt lở và lũ quét bùn đá
Các hiện tượng thiên tai trên được hình thành từ sự tương tác phức tạp giữa các yếu tố:
Yếu tố tự nhiên (Nội tại & Ngoại lực)
Địa hình - Địa chất: Vùng núi có độ dốc cao, chia cắt mạnh; vỏ phong hóa dày, cấu trúc đất đá nứt nẻ, kém ổn định.
Khí hậu - Thủy văn: Mưa lớn cục bộ với cường suất cao hoặc mưa kéo dài nhiều ngày làm đất đạt trạng thái bão hòa nước, gia tăng áp lực kẽ rỗng và giảm lực ma sát trượt.
Cơ chế vỡ đập tự nhiên (Nghẽn dòng): Các trận trượt lở đất ở thượng nguồn đổ xuống lòng suối hẹp tạo thành các "đập tạm thời". Khi áp lực nước tích tụ phía sau vượt quá khả năng chịu lực, đập tự nhiên này vỡ đột ngột, vắt kiệt toàn bộ bùn đất, đá, cây cối lao xuống hạ lưu tạo thành lũ bùn đá.
Yếu tố nhân sinh
Hoạt động san gạt làm mất ổn định chân mái dốc phục vụ hạ tầng, giao thông.
Việc xây dựng công trình làm cản trở hoặc thay đổi dòng thoát lũ tự nhiên.
3. Tổng quan các nghiên cứu khoa học và chương trình đã thực hiện
Việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong quan trắc, cảnh báo và giảm nhẹ rủi ro sạt lở, lũ quét đã được Đảng, Nhà nước và các Bộ ngành chú trọng từ lâu.
Các chương trình, đề án trọng điểm:
3.1- Đề án phân vùng cảnh báo nguy cơ sạt lở đất đá:
a. Tên: Đề án "Điều tra, đánh giá và phân vùng cảnh báo nguy cơ trượt lở đất đá các vùng miền núi Việt Nam".
Bối cảnh: Được hình thành từ các nghiên cứu cơ sở ban đầu năm 2006, sau đó được Chính phủ phê duyệt chính thức vào năm 2012 và triển khai thực hiện trên quy mô toàn quốc. Cơ quan chủ trì: Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản (VIGMR) – Bộ TN&MT.
b. Mục tiêu của Đề án
Sàng lọc & Khoanh vùng nguy cơ: Thành lập hệ thống bản đồ phân vùng nguy cơ trượt lở đất đá ở các tỷ lệ khác nhau (từ tổng quan đến chi tiết) phục vụ công tác ứng phó thiên tai.
Cung cấp dữ liệu quy hoạch: Làm cơ sở khoa học giúp các Bộ, ngành và 37 tỉnh/thành phố miền núi đưa ra phương án bố trí dân cư, phát triển cơ sở hạ tầng (giao thông, thủy điện, quy hoạch quỹ đất) an toàn.
Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm: Tiến tới lắp đặt các trạm quan trắc, cảnh báo sớm nguy cơ sạt lở tại các khu vực rủi ro rất cao, tập trung đông dân cư.
c. Nội dung đề án
Điều tra hiện trạng: Khảo sát thực địa, ghi nhận các điểm trượt lở đã và đang xảy ra; thu thập dữ liệu về địa chất kiến tạo, vỏ phong hóa, thảm phủ thực vật, độ dốc và các tác động nhân sinh (cắt sườn đồi, làm đường...).
Xây dựng bản đồ phân vùng nguy cơ:
Bản đồ tỷ lệ 1:50.000: Phân vùng nguy cơ trượt lở đất đá ở quy mô toàn tỉnh/huyện.
Bản đồ tỷ lệ 1:10.000 và lớn hơn: Đánh giá chi tiết cho các xã, cụm dân cư hoặc đoạn tuyến giao thông huyết mạch có rủi ro cao.
Cơ sở dữ liệu & Chuyển giao: Xây dựng cơ sở dữ liệu GIS về trượt lở đất đá và tiến hành bàn giao trực tiếp bộ bản đồ hiện trạng, bản đồ phân vùng cho Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai & Tìm kiếm cứu nạn các tỉnh miền núi.
c. Sản phẩm & Kết quả đã đạt được
Nhóm sản phẩm | Kết quả thực tế đạt được |
Bản đồ Phân vùng (1:50.000) | Hoàn thành và bàn giao bộ bản đồ phân vùng nguy cơ trượt lở đất đá tỷ lệ 1:50.000 cho hơn 22-25 tỉnh miền núi (đặc biệt là khu vực Tây Bắc, Trung Bộ và Tây Nguyên). |
Bản đồ Chi tiết (1:10.000) | Thành lập bản đồ cảnh báo trượt lở chi tiết cho hàng chục xã trọng điểm/điểm nóng sạt lở ở các tỉnh như Hà Giang, Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu, Hòa Bình, Quảng Nam... |
Cơ sở dữ liệu trượt lở | Thống kê, định vị tọa độ và số hóa hàng chục ngàn điểm đã từng xảy ra trượt lở trên toàn quốc, tích hợp vào hệ thống GIS. |
Sản phẩm truyền thông | Phát hành các bộ Atlas trượt lở, sổ tay hướng dẫn nhận biết dấu hiệu sạt lở cho chính quyền cấp xã và cộng đồng người dân vùng cao. |
Các nhiệm vụ KHCN trong Đề án:
Nhiệm vụ 3.1: Thiết lập hệ thống nghiệp vụ thời gian thực cảnh báo sớm nguy cơ lũ quét, sạt lở đất cho các tỉnh miền núi (Trung tâm Dự báo KTTV Quốc gia chủ trì).
Nhiệm vụ 3.2: Nghiên cứu xây dựng thử nghiệm hệ thống cảnh báo sớm trượt lở dạng dòng bùn đất, đá theo thời gian thực tại xã Bản Khoang (Sa Pa, Lào Cai).
Nhiệm vụ 3.3: Xây dựng CSDL không gian tích hợp và bản đồ di dời dân cư khẩn cấp: Triển khai giai đoạn 2021–2025.
3.2- Đề án Cảnh báo sớm sạt lở đất, lũ quét khu vực miền núi, trung du Việt Nam
Dù đạt được nhiều kết quả quan trọng, các bản đồ tỷ lệ 1:50.000 của Đề án 2006 chủ yếu mang tính cảnh báo diện rộng. Do đó, hiện nay Bộ TN&MT đang tiếp tục chỉ đạo nâng cấp, tích hợp dữ liệu Đề án này vào các chương trình tổng thể mới. Theo Quyết định số 552/QĐ-BTNMT ngày 07/03/2024 của Bộ Tài nguyên và Môi trường (Ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án Cảnh báo sớm sạt lở đất, lũ quét khu vực miền núi, trung du Việt Nam theo Quyết định số 1262/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ), dưới đây là tóm tắt các nội dung cốt lõi của Đề án:
a. Mục đích & Yêu cầu tổng quát
Mục tiêu trọng tâm: Xây dựng hệ thống thông tin cảnh báo sớm thời gian thực và hệ thống bản đồ phân vùng nguy cơ, rủi ro (tỷ lệ trung bình và tỷ lệ lớn) đồng bộ, tổng thể.
Chia sẻ & Truyền thông: Thiết lập cơ chế cung cấp, trao đổi thông tin cảnh báo đến cộng đồng; nâng cao năng lực ứng phó thiên tai cho cán bộ và nhân dân địa phương.
Kế thừa & Tích hợp: Kế hoạch được lồng ghép, kế thừa với Chương trình 705/QĐ-TTg năm 2018 và các chương trình, đề án liên quan để tránh lãng phí.
Hợp tác & Chuyển giao: Tăng cường hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ, tài chính; sản phẩm hoàn thành đến đâu phải bàn giao ngay cho địa phương đến đó để phục vụ quy hoạch, sơ tán dân cư.
b. Các nhóm nhiệm vụ chủ yếu
① Hoàn thiện thể chế, quy trình kỹ thuật
Xây dựng, hoàn thiện các quy định, quy trình kỹ thuật về dự báo, cảnh báo, đo đạc, điều tra khảo sát và lập bản đồ phân vùng nguy cơ/rủi ro do lũ quét, sạt lở đất.
Ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật công tác điều tra, lập bản đồ tỷ lệ lớn (1:10.000 và lớn hơn).
Xây dựng Quy chế phối hợp, vận hành, chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan quản lý - cơ quan điều tra - chính quyền - cộng đồng.
② Thiết lập và vận hành Hệ thống thông tin - Cảnh báo sớm thời gian thực
Giai đoạn 1 (2024 – 2025): Hoàn thiện cơ sở dữ liệu dùng chung phục vụ cảnh báo sớm.
Giai đoạn 2 (2026 – 2030): Xây dựng, ứng dụng công nghệ viễn thám, nâng cấp mô hình và vận hành Hệ thống thông tin - cảnh báo sớm sạt lở đất, lũ quét thời gian thực cho 37 tỉnh trung du, miền núi.
③ Điều tra, lập bản đồ tỷ lệ lớn (1:10.000 và lớn hơn) cho 150 khu vực rủi ro cao
Ứng dụng viễn thám và khảo sát thực địa để lập bản đồ hiện trạng, bản đồ thành phần địa chất - thủy văn, bản đồ phân vùng nguy cơ và rủi ro tỷ lệ 1:10.000 (hoặc lớn hơn) cho 150 khu vực (xã/vùng) có nguy cơ rất cao.
④ Điều tra, lập bản đồ tỷ lệ 1:50.000 và 1:25.000 cho 37 tỉnh
Lập mới: Cho 15 tỉnh chưa thực hiện tại Chương trình 705 (gồm các tỉnh thuộc Bắc Bộ, Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ).
Cập nhật: Cho 22 tỉnh đã thực hiện trong Chương trình 705.
⑤ Nghiên cứu KHCN, hợp tác quốc tế và nâng cao năng lực cộng đồng
Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng công nghệ hiện đại (viễn thám, thiết bị bay không người lái UAV, tự động hóa...).
Tổ chức tập huấn, truyền thông hướng dẫn cộng đồng sử dụng thông tin cảnh báo sớm.
Hợp tác quốc tế để tranh thủ nguồn lực kỹ thuật, tài chính và chia sẻ dữ liệu.
c. Danh mục 150 khu vực rủi ro cao (Phụ lục 2)
Đề án đã khoanh vùng sơ bộ 150 khu vực (xã/phường) thuộc các tỉnh miền núi/trung du (như Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Cao Bằng, Kon Tum, Lâm Đồng, Đắk Nông, Bình Định, Khánh Hòa...).
Tiêu chí lựa chọn: Kế thừa từ Đề tài TNMT.2021.02.08, chọn các địa bàn có đồng thời tỷ lệ nguy cơ sạt lở/lũ quét cao hoặc các khu vực vừa liên tiếp xảy ra sự cố thiên tai. Danh mục này có thể điều chỉnh linh hoạt theo nhu cầu thực tế của địa phương.
3.3 Đánh giá chung về các nghiên cứu: Dù đạt được nhiều thành tựu, các công trình nghiên cứu hiện nay vẫn gặp hạn chế do tỷ lệ bản đồ còn khá nhỏ (chưa chi tiết đến từng bản, ngõ); dữ liệu theo thời gian thực chưa đồng bộ; thiếu các giải pháp công trình/phi công trình vừa mang tính kinh tế vừa phù hợp với điều kiện địa phương miền núi.
4. Các giải pháp phòng chống và giảm thiểu rủi ro
Để ứng phó hiệu quả với lũ quét, lũ bùn đá và sạt lở đất, cần phối hợp đồng bộ các nhóm giải pháp:
Giải pháp phi công trình (Ưu tiên hàng đầu)
+ Nâng cao năng lực dự báo mưa định lượng và ứng dụng công nghệ viễn thám, cảm biến để cảnh báo sớm theo thời gian thực.
+ Lập bản đồ phân vùng nguy cơ chi tiết ở tỷ lệ lớn (1:5.000 - 1:10.000) phục vụ quy hoạch cư dân và di dời các hộ dân ra khỏi khu vực rủi ro cao.
+ Tăng cường công tác "4 tại chỗ", diễn tập sơ tán và đào tạo kỹ năng nhận biết nguy cơ cho cộng đồng.
Giải pháp công trình
+ Xây dựng hệ thống công trình kiểm soát dòng chảy: các đập gạt bùn đá (SABO dam), đập thu dòng, kênh thoát lũ.
+ Gia cố mái dốc bằng các giải pháp kết cấu mềm, trồng cỏ sâu rễ, kết hợp thoát nước mặt và thoát nước ngầm để giảm áp lực nước kẽ rỗng trên mái taluy.
5. Bàn về nguyên nhân trận lũ quét tại Mường Than (ngày 17/07/2026)
Trong Danh mục 150 khu vực rủi ro cao với sạt lở đất, lũ quét được ban hành tại Phụ lục 2 kèm theo Quyết định 552/QĐ-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường (về Kế hoạch thực hiện Đề án "Cảnh báo sớm sạt lở đất, lũ quét khu vực miền núi, trung du Việt Nam") Khu vực xã Mường Than (huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu) không nằm trong Danh mục 150 khu vực rủi ro cao thuộc Phụ lục 2.
5.1- Đặc điểm địa hình khu vực Mường Than:
Mường Than là cánh đồng lớn thứ ba của Tây Bắc ("Nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc"). Địa hình chủ yếu là thung lũng bằng phẳng và các dải đồi gò thấp, mật độ dốc không quá lớn so với các vùng núi cao chia cắt mạnh. Do đó, trong các nghiên cứu đánh giá rủi ro trượt lở đất đá quy mô lớn của Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản, khu vực trung tâm Mường Than không nằm trong nhóm ưu tiên rủi ro trượt lở đất đặc biệt nghiêm trọng để xếp vào top 150 trọng điểm toàn quốc. Tuy nhiên, theo ghi chú tại Quyết định 552/QĐ-BTNMT, danh sách 150 khu vực rủi ro cao có thể được điều chỉnh, bổ sung hoặc cập nhật dựa trên đề xuất thực tế của Ban Chỉ huy PCTT&TKCN tỉnh Lai Châu cũng như diễn biến thời tiết qua các năm.
Mặc dù Mường Than không có tên trong danh mục 150 khu vực trọng điểm quốc gia, nhưng trong các bản tin dự báo khí tượng thủy văn hàng ngày/hàng mùa của tỉnh Lai Châu, các vùng đồi núi giáp ranh của xã vẫn được đưa vào diện theo dõi nguy cơ cục bộ khi xảy ra mưa lớn kéo dài.
Từ thông tin khảo sát và thực tế hiện trường từ báo chí tại khu vực suối Nậm Sảng (Bản Chit, Mường Than), có thể đưa ra một số nhận định ban đầu về góc độ kỹ thuật:
5.1. Bản chất: Sạt trượt tầng nông gây nghẽn dòng và hình thành lũ bùn đá
Trận lũ quét tại Mường Than mang đầy đủ đặc tính của một trận lũ bùn đá do vỡ đập tạm thời. Sau những đợt mưa lớn tích tụ, tại các mái dốc độ dốc cao phía thượng nguồn suối Nậm Sảng đã xảy ra nhiều điểm sạt trượt tầng nông. Khối lượng lớn đất đá phong hóa cùng cây gỗ bị bóc tách, đổ gạt xuống lòng suối hẹp ở khe sâu, tạo thành các nút chặn (nghẽn dòng). Khi nước suối phía trên dâng cao đến điểm gãy, áp lực thủy tĩnh đánh tan nút chặn, tạo thành trận lũ bùn đá hung tàn lao thẳng về phía hạ lưu Bản Chit.
5.2. Phản bác quan điểm cho rằng nguyên nhân do "phá rừng"
Nhiều ý kiến thói quen thường đổ lỗi cho việc mất rừng mỗi khi có lũ quét. Tuy nhiên, qua đối chiếu địa lý, khu vực thượng nguồn suối Nậm Sảng nằm trong Vườn Quốc gia Hoàng Liên Sơn – khu vực rừng đặc dụng được bảo vệ nghiêm ngặt, có thảm phủ thực vật tự nhiên rất tốt.
Cần hiểu rõ rằng: Rừng có tác dụng cản dòng chảy mặt và giảm đỉnh lũ cho các trận mưa nhỏ và trung bình. Tuy nhiên, khi gặp các đợt mưa có cường suất quá lớn, lớp đất thổ dưỡng dưới chân rừng đạt đến trạng thái bão hòa nước hoàn toàn. Lúc này, trọng lượng của chính thảm thực vật và cây rừng vô tình làm tăng tải trọng trên mái dốc, trong khi lực ma sát đáy lớp đất mặt bị triệt tiêu, dẫn đến hiện tượng trượt lở tầng nông kể cả ở những nơi rừng nguyên sinh còn trọn vẹn.
5.3. Thách thức lớn trong nhận diện nguy cơ và cảnh báo sớm
Sự kiện Mường Than một lần nữa minh chứng cho sự phức tạp của thiên tai miền núi. Dù chúng ta đã có nhiều chương trình, đề tài nghiên cứu cấp quốc gia, nhưng việc dự báo chính xác thời điểm và tọa độ xảy ra điểm nghẽn dòng tại các khe suối nhỏ lẻ vẫn là bài toán cực kỳ khó khăn trên thế giới hiện nay:
Các điểm sạt trượt thượng nguồn thường xảy ra ở những nơi hẻo lánh, địa hình chia cắt, hệ thống quan trắc không thể phủ sóng tới từng khe suối.
Diễn biến từ lúc nghẽn dòng đến khi vỡ đập tạm ra lũ quét diễn ra rất nhanh (chỉ trong vài chục phút đến một giờ), vượt quá khả năng truyền tin phản ứng thông thường nếu không có thiết bị cảm biến tự động tại chỗ.
Lời kết
Ứng phó với sạt lở và lũ quét bùn đá không thể chỉ dựa vào giải pháp đơn lẻ. Hội Đập lớn và Phát triển Nguồn nước Việt Nam khuyến nghị các cơ quan chức năng cần tiếp tục đầu tư hoàn thiện hệ thống cảnh báo sớm thời gian thực, đồng thời kết hợp tri thức bản địa của người dân địa phương trong việc phát hiện các dấu hiệu bất thường (nước suối đột ngột đổi màu, suối bị cạn nước bất thường - dấu hiệu nghẽn dòng) để chủ động sơ tán, bảo vệ tính mạng và tài sản nhân dân.
Hà nội, ngày 21/7/2026
Nguyễn Quốc Dũng, BBT Website