Góp ý về đề xuất nạo vét lòng dẫn sông Hồng, sông Đà đoạn qua Hà Nội [GS. Trần Đình Hợi]

29/10/2026 10:44

38

Góp ý về đề xuất nạo vét lòng dẫn sông Hồng, sông Đà đoạn qua Hà Nội

Kính gửi: Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội;

Đồng kính gửi: Sở Xây dựng Hà Nội

Vừa qua, trên phương tiên thông tin đại chúng, Tôi được đọc Thông báo kết luận của Chủ tịch UBND Thành phố công bố ngày 24/10/2026 về việc “Thành phố cơ bản thống nhất chủ trương nghiên cứu phương án nạo vét lòng dẫn sông Hồng, sông Đà đoạn qua Hà Nội theo đề nghị của Tập đoàn Vingroup”. Tôi là Trần Đình Hợi, Giáo sư, Tiến sĩ, Viện trưởng Viện Nước, Môi trường và Biến đổi khí hậu (nguyên là Phó Viện trưởng Viện khoa học Thủy lợi, Giám đốc Phòng thí nghiệm trọng điểm Quốc gia về sông biển) xin gửi tới UBND Thành phố và Sở Xây dựng một số ý kiến (từ I đến IX và phần Kết luận, Kiến nghị) như sau:

I- Tóm tắt nhận định và kiến nghị

Lòng dẫn sông là hệ cân bằng động. Nạo vét cải tạo quy mô lớn, dù theo phương án nào, cũng phá vỡ mặt cắt đã ổn định tương đối, gây bất lợi cho thoát lũ, cấp nước và cho ổn định lòng dẫn.

- Vấn đề của sông Hồng đoạn Hà Nội là thiếu bùn cát và hạ thấp đáy, không phải bồi lắng. Nạo vét làm trầm trọng thêm chính vấn đề này.

- Với lũ lớn, khả năng thoát lũ phụ thuộc chủ yếu vào bãi sông giữa hai đê. Lấy cát ở lòng dẫn đắp lên bãi có thể làm giảm, chứ không tăng, khả năng thoát lũ thiết kế.

- Tác động lan rộng ra hạ lưu và các tỉnh Hưng Yên, Ninh Bình, Bắc Ninh. Đây không còn là việc nội bộ của Hà Nội.

- Đề xuất cần được xem xét cùng Trục Đại lộ Cảnh quan Sông Hồng, Quy hoạch Thủy lợi vùng Đồng bằng sông Hồng đến năm 2030 và tầm nhìn đến 2045, Đề án thí điểm phục hồi dòng chảy và cải tạo môi trường các sông Đáy, Nhuệ, Bắc Hưng Hải và Ngũ Huyên Khê. 

Các nghiên cứu phương án nạo vét và kiến nghị cụ thể phải trả lời được nêu tại Mục X.

II. Nội dung đề xuất còn những điểm còn mơ hồ

Theo thông báo kết luận của Chủ tịch UBND Thành phố công bố ngày 24/10/2026, phương án nạo vét lòng dẫn sông Hồng, sông Đà đoạn qua Hà Nội theo đề nghị của Tập đoàn Vingroup (*nguồn) nhằm ba mục tiêu:

Thứ nhất là: Khơi thông dòng chảy, nâng khả năng thoát lũ, bảo đảm an toàn đê điều và giao thông thủy.

Thứ hai là: Tạo nguồn vật liệu san lấp cho các công trình trọng điểm của Thành phố.

Thứ ba là: Tập kết, quản lý khoáng sản thu hồi để tăng thu ngân sách.

Thông báo cũng cho biết đây là nhiệm vụ quy mô lớn, phức tạp, liên quan nhiều địa phương và chưa có tiền lệ thực hiện bằng vốn xã hội hóa. Thành phố yêu cầu nghiên cứu không gây xói lở, không ảnh hưởng bất lợi đến thoát lũ và cấp nước của thượng, hạ lưu. Đây là những yêu cầu đúng, và góp ý này nhằm làm rõ vì sao chúng rất khó đáp ứng.

Theo thông tin công bố, đề xuất chưa có các nội dung kỹ thuật tối thiểu sau:

─ Phạm vi, chiều dài các đoạn nạo vét; tuyến chỉnh trị và tuyến bờ dự kiến.

─ Cao trình đáy và mặt cắt thiết kế sau nạo vét.

─ Khối lượng nạo vét, tiến độ, và có hay không nạo vét duy tu định kỳ.

─ Nơi sử dụng vật liệu, đặc biệt tỷ lệ được đắp lại trong phạm vi giữa hai đê.

─ Căn cứ tính toán cho mục tiêu "tăng thoát lũ": tăng bao nhiêu, ở cấp lũ nào.

Thiếu các thông số này thì chưa thể đánh giá mục tiêu thứ nhất. Trong khi đó, mục tiêu thứ hai và thứ ba lại rất cụ thể. Sự lệch nhau này cho thấy cần xem xét đề xuất trước hết như một dự án khai thác vật liệu, sau đó mới đến chỉnh trị sông.

II. Cơ sở khoa học: lòng dẫn là một hệ cân bằng động

Mọi nạo vét cải tạo quy mô lớn đều làm mất ổn định lòng dẫn, bất kể thiết kế ra sao. Đây là điểm xuất phát của toàn bộ góp ý.

─ Hình dạng một dòng sông không ngẫu nhiên. Độ rộng, độ sâu, độ dốc, vị trí lạch sâu và bãi bồi là kết quả của quá trình tự điều chỉnh lâu dài giữa bốn yếu tố: lưu lượng nước, lượng bùn cát đến, cỡ hạt lòng sông và độ dốc. Thủy lực học sông gọi đây là trạng thái cân bằng động (cân bằng Lane, lý thuyết chế độ). Mặt cắt hiện tại của sông Hồng qua Hà Nội là mặt cắt dòng sông đã "tự chọn" cho chế độ nước và bùn cát hiện hữu.

─ Nạo vét quy mô lớn là áp đặt một mặt cắt nhân tạo không tương thích với chế độ đó. Dòng sông sẽ phản ứng để tìm cân bằng mới, theo những cách khó dự báo và kéo dài nhiều năm:

─ Bồi lấp trở lại không đều; lạch sâu dịch chuyển; bãi mới hình thành ở vị trí khác.

─ Xói lùi lan ngược về thượng lưu và xói lan xuống hạ lưu từ các hố đào.

─ Dòng chảy dồn năng lượng vào bờ, chân kè và móng công trình để tự mở rộng hoặc tự điều chỉnh mặt cắt.

Hệ quả là ba lợi ích mà đề xuất muốn đạt được, gồm thoát lũ, cấp nước và ổn định lòng dẫn, đều chịu bất lợi cùng lúc. Muốn duy trì mặt cắt nhân tạo thì phải nạo vét duy tu vô thời hạn.

Cần phân biệt rõ hai loại hoạt động: Nạo vét duy tu luồng tàu cục bộ, khối lượng nhỏ, bám theo diễn biến tự nhiên là việc bình thường. Góp ý này nhắm vào loại còn lại: nạo vét cải tạo lòng dẫn quy mô lớn, chủ động thay đổi mặt cắt sông.

III. Hiện trạng sông Hồng đoạn Hà Nội: thiếu bùn cát và đang hạ thấp đáy

Sông Hồng qua Hà Nội không bị bồi lấp. Ngược lại, nó đang bị "đói" bùn cát và hạ thấp đáy kéo dài. Có hai nguyên nhân chính:

─ Hệ thống hồ chứa thượng nguồn (Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Thác Bà, Tuyên Quang và các hồ phía Trung Quốc) giữ lại phần lớn bùn cát. Dòng nước ra khỏi hồ có năng lực vận chuyển dư thừa nên lấy bùn cát từ chính lòng sông phía dưới.

─ Khai thác cát hợp pháp và trái phép trong nhiều năm đã lấy đi khối lượng lớn vật liệu lòng sông.

Hệ quả đã được ghi nhận rõ: mực nước mùa kiệt tại trạm Hà Nội liên tục xuống thấp trong nhiều năm; các cống lấy nước như Liên Mạc, Xuân Quan khó lấy nước; mùa đổ ải phải xả nước tăng cường từ các hồ thủy điện.

Có thể có ý kiến lập luận rằng "sông đã mất ổn định rồi, nạo vét là để chỉnh lại". Lập luận này không đứng vững. Một dòng sông đang trong quá trình tự điều chỉnh lại càng nhạy cảm với tác động mới. Nạo vét không đưa sông về cân bằng mà cộng thêm một nhiễu động lên quá trình hạ thấp đáy đang diễn ra, biến đổi lòng dẫn càng khó dự báo.

Thêm vào đó, bùn cát đến đoạn sông Hà Nội hiện rất ít. Vật liệu bị lấy đi gần như không được bồi bù. Về bản chất đây là khai thác một tài nguyên không tái tạo, không phải nạo vét bùn lắng.

IV. Tác động đến thoát lũ: lợi ích được nêu chưa có căn cứ

Mục tiêu "tăng thoát lũ" nhầm chỗ: với lũ thiết kế, mặt cắt quyết định là toàn bộ khoảng giữa hai đê, chủ yếu là bãi sông, không phải lòng dẫn mùa kiệt.

Thứ nhất, lòng dẫn đã được "mở rộng" tự nhiên. Quá trình hạ thấp đáy nêu ở Mục III đã làm tăng khả năng tải dòng của lòng dẫn chính. Đào sâu thêm chủ yếu có lợi với lũ nhỏ và vừa, vốn không phải mối đe dọa với đê Hà Nội.

Thứ hai, khi lũ lớn, dòng chảy chiếm toàn bộ bãi sông. Khả năng thoát lũ thiết kế phụ thuộc vào diện tích, độ nhám và mức thông thoáng của bãi. Nếu vật liệu nạo vét được dùng tôn nền bãi, công trình trên bãi tăng lên, thì phần mặt cắt quan trọng nhất bị thu hẹp. Nói cách khác, đề xuất có thể chuyển khối lượng từ chỗ ít quan trọng sang chỗ quan trọng nhất với thoát lũ. Kết quả ròng trên mặt cắt lũ thiết kế có thể âm.

Thứ ba, mặt cắt nhân tạo không giữ được. Theo Mục II, sau vài mùa lũ, mặt cắt sau nạo vét sẽ biến dạng theo cách khó dự báo. Khả năng thoát lũ thực tế có thể khác xa con số tính toán ban đầu.

Thứ tư, dung tích trữ lũ giảm. Bãi sông là không gian trữ và làm phẳng đỉnh lũ. Tôn nền bãi làm lũ truyền nhanh hơn và ít bị cắt gọt hơn, chuyển rủi ro xuống hạ lưu (Mục VII).

Vì vậy, hồ sơ phải chứng minh "tăng thoát lũ" bằng mô hình thủy lực 2 chiều cho các cấp lũ thiết kế, so sánh mực nước dọc tuyến trước và sau, gồm cả phần đắp trên bãi, không chỉ phần đào trong lòng.

V. Tác động đến cấp nước: làm trầm trọng thêm vấn đề nan giải nhất

Nạo vét sâu lòng dẫn sẽ kéo mực nước mùa kiệt xuống thấp hơn nữa. Đây là tác động trực tiếp và gần như chắc chắn xảy ra. Cống lấy nước bị "treo". Các cống và trạm bơm dọc sông được thiết kế theo cao trình mực nước và đáy sông cũ. Khi mực nước kiệt hạ, khả năng lấy nước giảm. Cống Liên Mạc (đầu mối hệ thống sông Nhuệ), cống Xuân Quan (đầu mối Bắc Hưng Hải) và các trạm bơm ven sông đều bị ảnh hưởng. Chính vì vậy, Quy hoạch Thủy lợi Đồng Bằng Sông Hồng dự kiến sẽ xây dựng một số đập dâng trên sông Đà, sông Hồng, sông Đuống để nâng mực nước mùa cạn.

Phụ thuộc nhiều hơn vào xả hồ: Trong khi chưa xây dựng các đập dâng, mỗi mùa đổ ải sẽ cần lượng nước xả tăng cường lớn hơn từ các hồ thủy điện, ảnh hưởng đến an ninh năng lượng, lãng phí nước.

Đề nghị hồ sơ phải đánh giá định lượng mức hạ mực nước kiệt theo các kịch bản hiện tại và tương lai (khi có các đập dâng).

VI. Tác động đến ổn định lòng dẫn, bờ sông và công trình

Muốn bờ ổn định thì phải giữ lòng dẫn ổn định. Nạo vét quy mô lớn làm điều ngược lại.

Xói lùi và xói lan: Hố nạo vét tạo bậc địa hình trên đáy sông. Bậc này lan ngược lên thượng lưu (xói lùi) và hố tiếp tục "hút" bùn cát, gây xói lan xuống hạ lưu. Phạm vi ảnh hưởng vượt xa đoạn nạo vét.

Xói Móng trụ cầu: Các cầu Thăng Long, Nhật Tân, Long Biên, Chương Dương, Vĩnh Tuy, Thanh Trì, cầu đường sắt và các cầu đang xây dựng như Tứ Liên, Trần Hưng Đạo đều nằm trong vùng ảnh hưởng. Hạ đáy cục bộ làm giảm chiều sâu chôn móng và tăng xói cục bộ quanh trụ.

Xói chân kè và chân đê: Lòng dẫn sâu hơn làm mái bờ cao hơn, dốc hơn, dễ sạt trượt. Các kè hiện có được thiết kế theo cao trình đáy cũ sẽ bị moi chân.

Xói bờ đối diện: Nếu nạo vét nhằm gom dòng ra xa một bờ, năng lượng dòng chảy sẽ chuyển sang bờ đối diện hoặc đoạn kế tiếp. Rủi ro không mất đi mà đổi chỗ.

Đề nghị hồ sơ nghiên cứu cần đánh giá xói cục bộ tại từng trụ cầu và từng tuyến kè trong phạm vi ảnh hưởng, kèm phương án gia cố và người chịu chi phí gia cố nếu xảy ra.

VII. Tác động của nạo vét đoạn Hà Nội không chỉ liên quan đến Hà Nội

Có năm cơ chế lan truyền tác động của nạo vét đoạn Hà Nội:

─ Hố nạo vét tạo bẫy bùn cát. Phần bùn cát ít ỏi từ thượng nguồn sẽ lắng vào hố đào ở đoạn Hà Nội. Dòng chảy ra khỏi đoạn Hà Nội càng thiếu bùn cát và xói mạnh hơn ở đoạn qua Hưng Yên (gồm cả Thái Bình cũ) và Ninh Bình (gồm Hà Nam, Nam Định cũ). Sạt lở bờ, kè và móng cầu hạ lưu sẽ tăng.

─ Mực nước kiệt bị hạ thấp trong đoạn Hà nội sẽ lan xuống hạ du. Các cống lấy nước dọc sông Hồng, sông Trà Lý, sông Đào sẽ khó lấy nước hơn.

─ Hậu quả của mực nước mùa kiệt bị hạ thấp là mặn từ các cửa sông sẽ xâm nhập sâu hơn, ảnh hưởng đến lấy nước cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt vùng ven biển. Lượng bùn cát ra cửa sông giảm thêm cũng làm tăng xói lở bờ biển.

─ Tỷ lệ phân lưu thay đổi. Thay đổi lòng dẫn có thể làm lệch tỷ lệ chia nước giữa sông Hồng với sông Đuống, sông Luộc, sông Trà Lý, sông Đào. Toàn bộ quy hoạch phân phối nước và phòng chống lũ của hệ thống sông Hồng – Thái Bình đang dựa trên các tỷ lệ này sẽ bị phá vỡ, hậu quả chưa lường hết được.

Vì vậy, yêu cầu "không gây ảnh hưởng bất lợi cho thượng lưu và hạ lưu" của Thành phố cần phải được nghiên cứu trên phạm vi lưu vực, có sự tham gia của các tỉnh và của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, không chỉ là “việc riêng” và “trong phạm vi” của Hà Nội.

VIII. Quan hệ với Trục Đại lộ Cảnh quan Sông Hồng

Đề xuất nạo vét không thể xem xét tách rời dự án Trục Đại lộ Cảnh quan Sông Hồng và các dự án phát triển trên bãi sông. Thông báo của Thành phố yêu cầu phương án "không chồng lấn" với các dự án đã cấp phép, nhưng điều cần đánh giá là tác động cộng dồn, không phải chồng lấn về ranh giới. Vì đề xuất chưa có phương án kỹ thuật, có thể hình dung lập luận của phía đề xuất cho mục tiêu là "ổn định bờ" của đại lộ và đô thị ven sông:

─ Cắt bỏ hoặc hạ thấp bãi giữa, gom dòng về một luồng chính để đưa chủ lưu ra xa tuyến bờ phát triển.

─ Kè cứng hóa tuyến bờ mới và dùng vật liệu nạo vét tôn nền bãi ven, cố định đường bờ theo mô hình chỉnh trị sông Hàn (Seoul).

─ Nạo vét duy tu định kỳ để giữ luồng, tương đương một quyền tận thu dài hạn.

Ở một con sông đang thiếu bùn cát như sông Hồng, kịch bản này tự mâu thuẫn. Luồng bị gom sẽ xói sâu thêm, moi chân chính tuyến kè được xây để "ổn định bờ". Kè trở thành công trình phải gia cố liên tục. Như vậy, nạo vét không phục vụ ổn định bờ. Nó phục vụ việc tạo đất và tạo vật liệu, còn ổn định bờ là cái giá phải trả bằng kè.

Điểm đáng lo nhất là luận điểm nạo vét có thể đóng vai "bù mặt cắt thủy lực" cho việc lấn bãi sông. Trong khi tỷ lệ xây dựng trên bãi sông còn đang được Thành phố và Bộ Nông nghiệp và Môi trường thảo luận, một đề xuất "tăng thoát lũ" dễ được dùng để lập luận rằng phần lấn bãi đã được bù bằng phần đào lòng. Khi đó cùng một khối cát vừa là "giải pháp an toàn" vừa là "vật liệu san lấp", tạo thành vòng khép kín mà Mục IV đã chỉ ra có thể làm giảm khả năng thoát lũ thiết kế.

Đề nghị Thành phố yêu cầu đánh giá tác động tổng hợp của nạo vét cùng toàn bộ các dự án trên bãi sông trong cùng một mô hình, với kịch bản bất lợi nhất.

IX. Thẩm quyền, pháp lý và xung đột lợi ích

Đề xuất vượt thẩm quyền quyết định của riêng Thành phố, và cơ chế xã hội hóa hiện nay tạo xung đột lợi ích rõ ràng.

Về thẩm quyền. Lòng dẫn sông Hồng thuộc quy hoạch phòng, chống lũ và quy hoạch đê điều hệ thống sông Hồng – Thái Bình, do Trung ương quản lý. Mọi thay đổi lòng dẫn phải tuân thủ Luật Đê điều, Luật Tài nguyên nước, Luật Phòng chống thiên tai và Luật Địa chất và khoáng sản. Thành phố đã đúng khi dự kiến xin ý kiến Thủ tướng. Tuy nhiên do tác động liên tỉnh của dự án, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phải là cơ quan chủ trì thẩm định chuyên môn, không chỉ Sở Xây dựng làm đầu mối hướng dẫn hồ sơ.

Về xung đột lợi ích. Trong mô hình được nêu, cùng một doanh nghiệp vừa đề xuất, vừa nghiên cứu, vừa thi công và hưởng lợi từ vật liệu. Doanh thu tỷ lệ thuận với khối lượng đào. Động lực kinh tế vì thế luôn kéo về phía nạo vét nhiều hơn mức cần cho thoát lũ hoặc giao thông thủy. Cách làm này lặp lại mô hình "nạo vét tận thu" đã từng bị lợi dụng để khai thác cát trái phép trên chính sông Hồng.

Về nguyên tắc tách bạch. Đề nghị tách ba vai trò: (i) cơ quan độc lập xác định nhu cầu và phương án chỉnh trị; (ii) đơn vị thi công được lựa chọn công khai; (iii) vật liệu được quản lý, định giá và bán đấu giá qua cơ quan nhà nước. Doanh nghiệp đề xuất không nên đồng thời là đơn vị lập nghiên cứu đánh giá tác động.

X. Kiến nghị

Kiến nghị chung: Chưa chấp thuận chủ trương đầu tư. Chỉ xem xét lại khi hồ sơ trả lời đầy đủ các câu hỏi dưới đây và được thẩm định độc lập.

Kiến nghị cụ thể:

1) Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì thẩm định chuyên môn; các tỉnh Hưng Yên, Ninh Bình, Bắc Ninh, Phú Thọ tham gia ngay từ giai đoạn nghiên cứu.

2) Nghiên cứu đánh giá tác động do một đơn vị khoa học độc lập thực hiện, không do doanh nghiệp đề xuất đặt hàng.

3) Phạm vi nghiên cứu là toàn hệ thống sông Hồng – Thái Bình, từ sau các hồ chứa đến cửa biển.

4) Đánh giá tác động cộng dồn của nạo vét cùng các dự án trên bãi sông, trong đó có Trục Đại lộ Cảnh quan Sông Hồng, trong cùng một mô hình.

5) Cấm sử dụng vật liệu nạo vét để san lấp trong phạm vi giữa hai đê, trừ khi được chứng minh không làm giảm khả năng thoát lũ thiết kế.

6) Công khai hồ sơ và tổ chức phản biện xã hội, có sự tham gia của các hội nghề nghiệp như Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam (VNCOLD).

Danh mục câu hỏi hồ sơ đề xuất phải trả lời:

Nhóm

Câu hỏi bắt buộc

Phương án

Phạm vi, chiều dài các đoạn nạo vét? Tuyến chỉnh trị, tuyến kè ở đâu?

Phương án

Cao trình đáy và mặt cắt thiết kế sau nạo vét?

Khối lượng

Tổng khối lượng, tiến độ? Có nạo vét duy tu định kỳ không, bao lâu?

Vật liệu

Vật liệu đi đâu? Bao nhiêu phần trăm đắp lại trong phạm vi giữa hai đê?

Thoát lũ

Mực nước lũ thiết kế dọc tuyến trước và sau, tính cả phần đắp trên bãi?

Cấp nước

Mực nước kiệt hạ bao nhiêu tại từng cống Liên Mạc, Xuân Quan và các trạm bơm chính?

Lòng dẫn

Cân bằng bùn cát toàn hệ thống? Dự báo diễn biến lòng dẫn 10, 20, 50 năm?

Công trình

Xói cục bộ tại từng trụ cầu, tuyến kè? Ai chịu chi phí gia cố?

Hạ lưu

Thay đổi đỉnh lũ, mặn xâm nhập, tỷ lệ phân lưu tại các tỉnh hạ du?

Kinh tế

Giá trị vật liệu so với chi phí gia cố, bồi thường và duy tu dài hạn?

Kết luận:

Mặt cắt sông Hồng hôm nay là kết quả của hàng trăm năm dòng nước tự điều chỉnh. Nạo vét cải tạo quy mô lớn không làm sông tốt hơn. Nó buộc sông phải tự điều chỉnh lại từ đầu, và cái giá của quá trình đó do đê, kè, cầu, cống, nguồn nước của Hà Nội và các tỉnh hạ lưu gánh chịu.

Tôi trân trọng sự chủ động của doanh nghiệp và mong muốn của Thành phố trong việc giải quyết bài toán thoát lũ và vật liệu xây dựng. Tuy nhiên, an toàn của dòng sông và của hàng triệu người dân hai bên bờ cần được đặt lên trước, với căn cứ khoa học đầy đủ và cơ chế thẩm định độc lập.

Tôi đề nghị Thành phố chưa chấp thuận chủ trương nạo vét cải tạo lòng dẫn sông Hồng, sông Đà theo đề xuất hiện nay. Lý do là đề xuất mới nêu mục tiêu, chưa có phương án kỹ thuật, và đi ngược đặc điểm diễn biến lòng dẫn sông Hồng đoạn Hà Nội.

Tôi sẵn sàng trao đổi thêm và tham gia các hội thảo phản biện khi Thành phố tổ chức.

GS.TS Trần Đình Hợi.

*[Nguồn:

Hà Nội xem xét đề xuất nạo vét sông Hồng, sông Đà – Người Quan Sát (theo Tiền Phong), 24/10/2026]