Lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn: Lời giải cho quản trị hệ sinh thái nguồn nước
05/11/2026 09:50
Lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn: Lời giải nào cho quản trị hệ sinh thái nguồn nước
1. Tổng quan lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn và thách thức trước biến đổi khí hậu
Lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn sở hữu diện tích tự nhiên hơn 10.000 km2, bắt nguồn từ sườn đông dãy Trường Sơn hiểm trở đổ ra vùng đồng bằng ven biển qua Đà Nẵng và Quảng Nam. Đây là không gian sinh tồn, cấp nước thiết yếu cho hàng triệu người dân đô thị, các trung tâm kinh tế trọng điểm miền Trung cùng hàng chục nghìn héc-ta đất nông nghiệp.
Tuy nhiên, đây cũng là lưu vực chịu tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) và hình thế thời tiết khắc nghiệt hàng đầu cả nước. Địa hình lưu vực dốc, dòng chính sông ngắn khiến lũ tập trung rất nhanh và dễ biến động. Phân phối dòng chảy theo mùa diễn ra chênh lệch sâu sắc:
Khoảng 65–70% tổng lượng dòng chảy tập trung dồn dập vào 3 tháng mùa lũ, trong khi 3 tháng kiệt nhất chỉ chiếm khoảng 8,45%.
Xu thế BĐKH tại khu vực làm gia tăng các đợt mưa cực đoan (lượng mưa 5 ngày lớn nhất có xu hướng gia tăng từ 10% đến gần 60% tại các trạm đầu nguồn như Nông Sơn, Trà My), kích hoạt lũ quét, ngập lụt đô thị trên diện rộng.
Ngược lại, vào mùa khô, nắng nóng kéo dài cùng hiện tượng suy giảm dòng chảy tự nhiên đẩy lưu vực vào tình trạng hạn hán gay gắt, đe dọa trực tiếp đến an ninh nguồn nước.
2. Vai trò của hồ chứa thủy lợi, thủy điện đối với an ninh nguồn nước
Trước áp lực biến động dòng chảy theo mùa, hệ thống hồ chứa thủy lợi và thủy điện trên lưu vực đóng vai trò như các "van điều tiết" sống còn. Lưu vực hiện sở hữu 7 hồ thủy điện chủ đạo gồm: Sông Bung 2, Đak Mi 4, A Vương, Khe Diên, Sông Tranh 2, Sông Côn 2 (bậc 1) và Sông Bung 4, với tổng dung tích trữ nước đạt hơn 2.047 triệu m3.
Các công trình này gánh vác các nhiệm vụ chiến lược:
l Cắt, giảm lũ cho hạ du: Trong mùa bão lũ, các hồ thủy điện lớn dành dung tích phòng lũ hơn 466 triệu m3 để cắt giảm đỉnh lũ, làm chậm truyền sóng lũ xuống hạ du các đô thị như Đà Nẵng, Hội An.
l Điều hòa dòng chảy mùa cạn: Xả nước duy trì dòng chảy tối thiểu, đẩy nêm mặn lấn sâu vào các cửa lấy nước hạ lưu và bổ sung nguồn nước tưới tiêu nông nghiệp, sinh hoạt và công nghiệp.
l Bảo đảm an ninh năng lượng: Tham gia phủ đỉnh hệ thống điện, điều tần, điều áp và ổn định lưới điện khu vực.
3. Những hạn chế và thách thức nội tại của hệ thống hồ chứa
Dù có quy mô hạ tầng lớn, công tác quản lý và vận hành hồ chứa trên lưu vực Vu Gia – Thu Bồn đang bộc lộ những rào cản mang tính cốt tử:
l Sự suy giảm nguồn nước cực đoan và nguy cơ cạn kiệt: Điển hình vào mùa mưa cuối năm 2026, lượng mưa thiếu hụt nghiêm trọng khiến mực nước tại nhiều hồ lớn giảm sâu sát mực nước chết. Điển hình tại cửa lấy nước thủy điện Đak Mi 4, mực nước giảm tới 16 m so với cùng kỳ, hụt khoảng 140 triệu m3 nước tích trữ, khiến sản lượng điện tháng 11/2026 ước chỉ đạt 2 triệu kWh so với hơn 82 triệu kWh theo hợp đồng.
l Xung đột mục tiêu vận hành (Nước cho điện hay cho hạ du): Thủy điện vận hành ngắt quãng theo giờ cao điểm phát điện, trong khi hạ du đòi hỏi dòng chảy liên tục hoặc theo thời điểm con triều để đẩy mặn, dẫn tới "lệch pha" điều tiết. Nếu xả đẩy mặn nhiều sẽ cạn nước phát điện; ngược lại giữ nước để tích trữ thì hạ du bị xâm nhập mặn nghiêm trọng và treo trạm bơm.
l Áp lực bồi lắng và rủi ro an toàn công trình: Nhiều hồ chứa vận hành lâu năm đối mặt với lượng bồi lắng bùn cát lớn tràn vào tua-bin hoặc bồi lấp dung tích chết. Ngoài ra, phần lớn các hồ thủy lợi vừa và nhỏ được xây dựng từ 30–40 năm trước với vật liệu đập đất thủ công, thiết kế thủy văn cũ, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn khi gặp mưa lũ vượt tần suất thiết kế.
l Thiếu hụt dung tích phòng lũ: Hầu hết các đập thủy điện được đầu tư bởi doanh nghiệp cổ phần/tư nhân trong giai đoạn trước, ưu tiên bài toán kinh tế phát điện nên dung tích bố trí cho việc cắt giảm lũ hạ du còn khiêm tốn so với quy mô lũ thực tế.
4. Lời giải từ Quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn
Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn và vùng phụ cận thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã xác lập bước chuyển từ tư duy quản lý công trình đơn lẻ sang quản trị dòng sông như một hệ sinh thái thống nhất:
l Quản trị thống nhất toàn lưu vực, xóa bỏ ranh giới hành chính: Tiếp cận bài toán nước đa mục tiêu, liên vùng giữa thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam, điều hòa hài hòa giữa an ninh năng lượng, nông nghiệp, sinh hoạt và duy trì dòng chảy môi trường sinh thái.
l Chuyển đổi sang vận hành thời gian thực và linh hoạt: Cụ thể hóa tinh thần Luật Tài nguyên nước số 28/2023/QH15 và Nghị quyết số 12/2026/NQ-CP của Chính phủ, quy hoạch thúc đẩy cơ chế vận hành thích ứng động (FIRO). Cho phép các hồ chủ động hạ mực nước đón lũ sớm (Pre-release) khi có dự báo mưa lớn và tích nước linh hoạt theo từng giai đoạn cuối mùa lũ để bảo đảm nguồn cấp cho mùa kiệt năm sau.
l Hiện đại hóa công nghệ giám sát và chuyển đổi số: Tích hợp ảnh vệ tinh viễn thám, AI, mô hình thủy văn - thủy lực số và hệ thống cảnh báo sớm. Xây dựng nền tảng dữ liệu số kết nối liên thông trạm quan trắc tự động từ thượng nguồn các lòng hồ đến các điểm khống chế ngập lụt, xâm nhập mặn hạ du.
5. Dự án nâng cấp đập của JWA và JCOLD: Hướng tiếp cận công nghệ từ Nhật Bản
Nhằm giải quyết căn cơ điểm nghẽn về hạ tầng trên lưu vực, Cơ quan Nước Nhật Bản (JWA) cùng Ủy ban Quốc tế về Đập lớn Nhật Bản (JCOLD) đang tích cực phối hợp và đề xuất giải pháp kỹ thuật nâng cấp cụm đập thủy điện chủ đạo trên sông Vu Gia – Thu Bồn.
Dự án tập trung vào 5 đập lớn gồm: A Vương, Sông Bung 2, Sông Bung 4, Đak Mi 4 và Sông Tranh 2 (chiếm 44% diện tích toàn lưu vực):
Giải pháp phi công trình (Xả lũ sớm - Pre-flood drawdown): Vận hành hạ mực nước hồ chủ động trước khi mưa lũ lớn đổ về dựa trên mô hình dự báo thời tiết hạn ngắn, tạo thêm dung tích đệm hứng lũ mà không gây lũ nhân tạo ở hạ du.
Giải pháp công trình (Nâng cấp thân đập và bổ sung công trình xả):
l Nâng cao đỉnh đập hiện hữu (Raising dam body): Tính toán các phương án nâng cao đỉnh đập từ 2m đến 5m nhằm bổ sung từ 115 đến 287 triệu m3 dung tích phòng lũ (tăng 19,8% – 38,1%), đồng thời gia tăng sản lượng điện hàng năm từ 2,2% – 4,6%.
l Bổ sung cửa xả sâu/Tuynen xả lũ bên vai đập: Tăng khả năng thoát lũ khẩn cấp, hạ thấp mực nước đón lũ nhanh chóng.
l Công trình xả bùn cát (Sediment bypass / Sluice): Cải tạo cửa xả đáy để giải quyết triệt để nguy cơ bồi lắng lòng hồ, kéo dài tuổi thọ công trình.
Các giải pháp công nghệ nâng cấp đập từ JWA và JCOLD mang lại tiềm năng kỹ thuật lớn. Dù việc triển khai thực tế tại Việt Nam vẫn đối mặt với rào cản về cơ chế đối tác công - tư (PPP), chi phí giải phóng mặt bằng lòng hồ mở rộng và thủ tục liên ngành, đây vẫn là hướng đi mang tính then chốt nhằm hiện đại hóa hạ tầng, bảo vệ vùng hạ du Đà Nẵng - Quảng Nam bền vững trước các kịch bản thời tiết cực đoan.
BBT Website VNCOLD